Tiếng việt | English

“Hồ Chí Minh - tên Người là cả một niềm thơ”

- Thơ viết về Bác trải dài cùng năm tháng. Sau Tố Hữu là người viết nhiều và thành công nhất về Bác, có cả một đội ngũ đông đảo các nhà thơ thuộc nhiều thế hệ viết về Người. Bằng những dòng xúc cảm thành kính, các tác giả Tuyên Quang cũng đã thể hiện niềm kính yêu vô bờ bến dành cho vị Cha già dân tộc.

Cố nhà thơ Gia Dũng được độc giả cả nước biết đến với vai trò là một nhà thơ và soạn giả. Ông từng công tác tại Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh. Bài thơ “Ngược dòng sông Đáy” được viết tháng 5-1990. Tác phẩm là cảm xúc thành kính gửi đến vị Cha già dân tộc. Với giọng điệu êm đềm, nhẹ nhàng, thể thơ 7 chữ, Gia Dũng đưa độc giả hòa mình vào không gian yên bình của vùng sông nước bao la. Nơi mà hơn 40 năm về trước, Bác đã dạo thuyền và cảm tác bài thơ “Đi thuyền trên sông Đáy”. 


Cô trò trường THPT Nguyễn Văn Huyên (TP Tuyên Quang) trao đổi về những tác phẩm
của tác giả xứ Tuyên viết về Bác Hồ.

Lời thơ dào dạt, vỗ về gợi bao xúc động: “Thuyền con ngược mãi lên sông Đáy/Sông vẫn ngàn năm chẳng đổi dòng/Hoa phượng đôi bờ dâng sắc thắm/Nắng vàng như lọc khoảng trời xanh”. Với cách xưng hô “con” và “Bác”, ngôn từ trong sáng, lời thơ chậm rãi tựa như lời thì thầm trò chuyện. 

Đất và con người nơi đây vẫn một lòng nhớ thương Bác, dường như bóng hình, dấu chân ấy vẫn còn thấp thoáng đâu đây. Những câu hỏi tu từ dồn dập xuất hiện thể hiện sự nhớ thương tha thiết: “Đâu con thuyền nhỏ chiều khoan nhặt/Đâu ánh trăng nghiêng vàng lấp lánh/Khúc nào soi bóng Bác xa xưa...”.  

Trong số các nhà thơ xứ Tuyên, Thái Thành Vân là tác giả có khá nhiều tác phẩm về Bác. Từ tác phẩm đầu tay vào năm 1972 “Kỷ niệm về thăm Tân Trào” đến hàng loạt tác phẩm: “Lời thề”, “Về viếng Lăng Bác”, “Trường ca Bác Hồ”… đều khiến độc giả xúc động. Đặc biệt, bài thơ “Di chúc Bác Hồ” không chỉ khẳng định Di chúc của Bác mãi là nguồn sức mạnh tinh thần vô giá, mà thêm một lần nữa nói lên niềm tin, tình yêu của lớp lớp con cháu đối với Người.

Thông qua câu thơ đã khắc họa thành công hình tượng Bác thật gần gũi và thân thuộc. Lối viết thâm trầm, chậm rãi đã khắc họa vẻ đẹp của một nhà yêu nước vĩ đại, luôn thiết tha với nguyện ước cháy bỏng là làm cho dân ta được yên bình, no ấm. Ở Bác luôn gợi lên sự giản dị, thân tình: “Bác hóa thân trong chuyện kể dân gian/Bác gần gũi trong mỗi nhà, mỗi xóm/Suốt đời Bác chỉ một mong ước lớn/Tổ quốc phồn vinh, bè bạn sum vầy”.

Cũng trong mạch nguồn viết về Bác, trường ca “Tuyên Quang làm theo Di chúc Bác Hồ” đã thể hiện được trọn vẹn nỗi lòng và tình cảm của nhà thơ Ngọc Hiệp. Viết về Bác, nhà thơ Ngọc Hiệp không thần thánh hóa. Hình tượng của Người hiện lên giản dị và đời thường nhưng cũng vô cùng vĩ đại: “Ông Ké áo chàm như người rừng núi/Cháo bẹ, rau măng bếp lửa nhà sàn/Bác dạy đồng bào thương yêu, đoàn kết/Cần - kiệm, tăng gia cho lúa ngô nhiều”.

Trường ca được chia làm 5 khổ thơ, mỗi khổ thơ toát lên nội dung, tư tưởng khác biệt: Khắc họa nỗi đau của người dân Tuyên Quang khi nghe tin Bác mất; tập trung sức người, sức của kháng chiến chống Mỹ; hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước; người dân Tuyên Quang chung tay xây dựng quê hương, đất nước theo định hướng Chủ nghĩa xã hội. Khổ cuối tác giả nêu ra những định hướng phát triển trong tương lai: “Ta lại đi tiếp cuộc trường chinh/Có Đảng quang vinh đang dẫn dắt/Có hành trang: Di chúc của Bác/Hướng tương lai phía trước đang chờ”.

Tuyên Quang vinh dự và tự hào có nhiều địa điểm được chọn làm nơi ở, làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng 8 và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp như: Làng Sảo, Tân Trào, Lũng Tẩu, Vực Hồ, Kiên Đài, Kim Bình, Kim Quan, Hùng Lợi... Trong bài thơ “Đưa em về Kim Quan”, qua lời giới thiệu nhẹ nhàng, Lê Na đã đưa độc giả đến với những hình ảnh thật thân quen. Trong khổ 3, bằng 4 câu thơ thôi, nhà thơ đã khắc họa rõ nét cuộc sống giản dị, mộc mạc của một con người suốt đời “vì dân vì nước”; những động từ: “Sống”, “thức”, “lo”, “mong” như một nốt nhấn đặc biệt, tạo nên hồn cốt cho khổ thơ: “Bác sống bên cỏ cây/Đêm thức cùng tiếng suối/Lo đánh Pháp đuổi tây/Mong dân qua nghèo đói.

Năm 1980, nhà thơ Lê Na sáng tác bài thơ “Thơm mãi cánh hoa mộc lan”. Tác phẩm được đăng tải trong cuốn “Hồ Chí Minh với văn nghệ sĩ, văn nghệ sĩ với Hồ Chí Minh” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn biên soạn. Lê Na kể lại câu chuyện ngày Bác lên thăm Hà Giang và trồng cây hoa mộc lan nơi vùng đất địa đầu Tổ quốc. Suốt bao năm tháng qua, hương mộc lan tỏa ngát như hơi ấm tỏa ra từ bàn tay Người: “Hoa vẫn trổ đều”, “Cây vẫn biếc”, “Lá vẫn xanh”… Bài thơ kết thúc bằng câu thơ đầy cảm xúc: “Trời xanh lắm hương hoa thì dịu nhẹ/Giữa vùng cao biên giới thiêng liêng/Lan tỏa mãi sắc hương vời vợi/Cho quê hương mình thơm mãi cánh hoa”.

Nhà thơ Cu Ba Phê-lich Pi-ta Rô-đri-ghết từng viết: “Hồ Chí Minh - tên Người là cả một niềm thơ” - hình ảnh của Người là ánh sáng, niềm tin, trở thành nguồn đề tài phong phú, là mạch nguồn chảy mãi trong sáng tác của các văn nghệ sĩ. Mạch nguồn ấy sẽ còn mang đến cho chúng ta những trang viết, tứ thơ đẹp về nhân cách sáng ngời của Bác, để thế hệ sau luôn tự hào và nguyện làm theo lời dạy của Người.

Bài, ảnh: Giang Lam

Tin cùng chuyên mục