Tiếng việt | English

Những lớp học đặc biệt

- Có những lớp học chỉ có 1 em học sinh, nhiều nhất là 9 học sinh, thế nhưng các thầy, cô giáo vẫn hàng ngày vượt đèo, lội suối để đến lớp. Đó là những lớp học ghép từ 2 đến 3 trình độ tại các điểm trường lẻ ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Một người đóng 3 vai

Chẳng mấy ai xa lạ với lớp học ghép 2 trình độ, nhưng ở điểm trường Tâm Mi, xã Công Đa (Yên Sơn), các thầy, cô giáo ở đây vẫn phải dạy ghép 3 trình độ. Lớp học ghép 3 trình độ của cô giáo Nguyễn Minh Duyên hiện có 5 em học sinh. Trong đó, lớp 1 có 2 học sinh, lớp 2 có 1 học sinh và lớp 3 có 2 học sinh. Cô Duyên đã dạy ở điểm trường này 7 năm và năm nào cũng dạy các lớp ghép. Dạy lớp ghép 2 trình độ đã khó nhưng dạy ghép 3 trình độ thì người giáo viên phải đóng 3 vai một lúc.

Lớp học ghép 1, 2, 3 của cô giáo Nguyễn Minh Duyên, điểm trường Tâm Mi, trường Tiểu học Công Đa (Yên Sơn) trong một tiết học dạy lớp 1.

Lớp học của cô Duyên tuy có 5 học sinh với 3 bộ bàn ghế nhưng rất ấm cúng. Cô Duyên thường xuyên phải đi lại trong lớp để điều tiết và phân phối thời gian giảng dạy cho phù hợp với 3 trình độ, chẳng mấy khi được ngồi yên một chỗ. Lớp học có 2 bảng viết quay ngược vào nhau. Trong đó một bảng viết được chia làm đôi để dạy ghép. Cô bảo, thường thì những lớp dạy ghép 3 trình độ thì bảng viết được bố trí theo hình chữ U nhưng do lớp học hẹp nên đành phải chia đôi bảng. Lớp học 5 em đều là người dân tộc Nùng, có 2 em lớp 1 ban đầu còn không biết nói tiếng Kinh. Vì vậy, việc rèn cho các em nói thông viết thạo đối với lớp 1 là rất quan trọng. Nhưng do dạy ghép 3 trình độ nên cô Duyên phải phân phối thời gian hợp lý, tránh dạy lệch. Giáo án đối với những lớp học đặc biệt như thế cũng phải kỳ công. Trên cơ sở mẫu chung của nhà trường, cô Duyên chia giáo án làm 3 cột với 3 trình độ và môn học khác nhau.

Tiết học của học sinh điểm trường Tâm Mi, trường Tiểu học Công Đa (Yên Sơn).

Cô Duyên kể, những ngày đầu lên nhận lớp học, vì có ít học sinh quá nên cũng thấy hơi buồn. Nhưng càng gần gũi với các em, cô lại càng thương các em. Có học sinh vẫn phải đi bộ đến trường hàng ngày gần cây số. Nhằm làm cho lớp học không buồn tẻ, cô Duyên nghĩ ra các phương pháp như thảo luận nhóm, phát phiếu bài tập…để tạo không khí sôi nổi. Một tiết học phải vào vai 3 giáo viên 3 trình độ khác nhau nên đòi hỏi cô Duyên có tình yêu nghề và tình yêu thương với các em học sinh đồng bào dân tộc thiểu số, cô Duyên cũng như các thầy cô giáo dạy ghép 2 đến 3 trình độ ở đây vẫn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi cấp trường, cấp huyện nhiều năm liền.

Nói thạo, nghe thông 2 tiếng dân tộc

Điểm trường Tiểu học Bản Giáng, trường Tiểu học Trung Sơn (Yên Sơn) có 2lớp học ghép 2 trình độ. Nơi đây 100% là học sinh dân tộc Dao và Nùng. Điểm trường có 3 thầy, cô giáo là người dân tộc Tày và Kinh. Có lớp học có học sinh của cả 2 dân tộc Nùng và Dao, các em vào lớp 1 không biết nói tiếng Kinh.

Lớp học ghép 4, 5 của thầy giáo Lương Xuân Trường, điểm trường Bản Giáng, trường Tiểu học Trung Sơn (Yên Sơn).

Thầy giáo Lương Xuân Trường hiện đang dạy lớp ghép 4 và 5. Lớp học của thầy có 5 học sinh. Thầy Trường người dân tộc Tày kể: "Dạy học ở điểm trường Bản Giáng này đã được 8 năm rồi. Lúc đầu lên đây dạy lớp ghép 1 và 2, các em học sinh người Dao không biết nói tiếng Kinh đâu. Mình nhớ mãi một kỷ niệm, có em học sinh người dân tộc Dao khi được mình hỏi bài, em chỉ cười mà không nói câu gì. Nhiều buổi học, em cũng như thế. Mình bảo em viết các từ gần lại nhau hơn thì em lại viết xa nhau ra. Mình buồn quá cứ nghĩ rằng em chưa nghe lời thầy. Về sau tìm hiểu thì biết em không biết nói tiếng Kinh. Từ đó mình quyết tâm phải học nói thêm tiếng Dao”. Nhưng lớp học của thầy Trường bao giờ cũng có học sinh của hai dân tộc Dao và Nùng. Thế là để giao tiếp với học sinh, nói cho học sinh hiểu và hiểu học sinh nói, thầy Trường phải dành thời gian học nói cả tiếng Nùng. Bây giờ thầy Trường đã nói thạo, nghe thông được cả tiếng Nùng và Dao.

Cô giáo Lương Thị Hoa, người dân tộc Tày, hiện nay cũng đang dạy lớp ghép 3 và 4. Lớp của cô Hoa chỉ có 9 em. Khi được phân công lên Bản Giáng giảng dạy, việc đầu tiên của cô là học nói tiếng dân tộc Nùng, Dao. Cô bảo: “Phải thật sự coi các em như con em của mình thì mới dạy được”.

Vì là lớp dạy ghép nên việc ứng dụng công nghệ thông tin trong một tiết học rất khó khăn. Các thầy cô giáo ở đây phải nghĩ ra nhiều phương pháp giảng dạy sinh động, lôi cuốn mà không làm các em phân tán trong giờ học. Cô Hoa tự thiết kế các đồ dùng dạy học trực quan. Cô bảo: “Mình giờ có thể nói 2 tiếng dân tộc nhưng mình chỉ sử dụng trong những trường hợp đặc biệt như vận động các em đến trường, chuyện trò với các em sau tiết học…” Chính nhờ gần gũi nắm bắt tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của các em học sinh dân tộc thiểu số bằng cả trái tim nên từ nhiều năm nay, tỷ lệ chuyên cần của học sinh ở Bản Giáng luôn đạt 100%.


Lớp học chỉ có 2 học sinh của cô giáo Lương Thị Hoa, điểm trường Bản Giáng, trường Tiểu học Trung Sơn (Yên Sơn).

Chia tay các điểm trường lẻ và những lớp học chỉ có một đến vài học sinh nhưng không khí học tập vẫn diễn ra sôi nổi. Đó là nhờ những thầy, cô giáo vẫn ngày ngày “thắp lửa”, mang cái chữ đến với học sinh dân tộc thiểu số.                                                                    

Bài, ảnh: Thủy Châu

Tin cùng chuyên mục