Vực dậy các hợp tác xã nông nghiệp

TQĐT - Sau khi Luật Hợp tác xã năm 2012 có hiệu lực, các hợp tác xã nông lâm nghiệp trên địa bàn nhanh chóng bắt tay vào chuyển đổi, cơ cấu lại tổ chức hoạt động. Nỗi lo “bình mới rượu cũ” đã xảy ra ở nhiều địa phương đã được nhiều hợp tác xã hóa giải nhờ vào sự linh hoạt, năng động của các thành viên trong ban quản trị.

>> Bài 1: Có danh mà không có phận

Bài cuối: “Bình” mới, “rượu” cũng phải mới

Trông chờ là… “chờ chết!”

Thực hiện Luật Hợp tác xã năm 2012, hầu hết các hợp tác xã đã thực hiện chuyển đổi, đăng ký lại, chỉ còn 27 hợp tác xã chưa thực hiện do chưa hoàn thiện các thủ tục tại các cơ quan quản lý nhà nước. 

Sau chuyển đổi, các hợp tác xã chủ yếu tập trung vào một số khâu dịch vụ như: Dịch vụ thủy lợi, cung ứng giống vật tư, tiêu thụ sản phẩm, chuyển giao kỹ thuật cho các hộ thành viên, tín dụng nội bộ. Đồng thời, tổ chức sản xuất các ngành nghề và dịch vụ khác như làm đất, nước sạch nông thôn, xây dựng và dịch vụ vốn tín dụng nội bộ, chế biến nông sản, chăn nuôi... Tổng doanh thu từ các hoạt động dịch vụ của các hợp tác xã năm 2017 đạt trên 136,7 tỷ đồng, tăng gần 17 tỷ đồng so với năm 2016, sau khi trừ chi phí cho các khâu, số tiền lãi của các hợp tác xã còn gần 24 tỷ đồng. Trong 6 tháng năm 2018, doanh thu của các hợp tác xã là trên 82,7 tỷ đồng, trong đó doanh thu của hợp tác xã đối với thành viên là trên 4,7 tỷ đồng, doanh thu của hợp tác xã đối với thị trường bên ngoài thành viên là 37,5 tỷ đồng.

Hợp tác xã Nông lâm nghiệp Thổ Bình (Lâm Bình) được thành lập từ năm 1978. Ông Vi Văn Quận, Giám đốc Hợp tác xã cho biết, là một xã vùng cao, nhưng ngay sau khi củng cố lại hoạt động, các thành viên trong ban quản trị đã xác định phải chủ động trong việc mở rộng dịch vụ, ngành nghề sản xuất kinh doanh, vì trong thời điểm cơ chế thị trường nhanh và mạnh như hiện nay, nếu cứ trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước thì không khác gì “chờ chết”. Sau chuyển đổi năm 2013, thay vì chỉ trông chờ vào nguồn cấp bù thủy lợi phí, hợp tác xã mở rộng ra các dịch vụ cung cấp nước sạch nông thôn, dịch vụ giống vật tư, phân bón và thu mua, sản xuất, chế biến sản phẩm lạc cho bà con trong xã. Giám đốc Hợp tác xã Vi Văn Quận cho biết, sau chuyển đổi và mở rộng các dịch vụ, từ năm 2013 đến nay, hầu như năm nào doanh thu của hợp tác xã cũng có tăng trưởng, riêng năm 2017 đạt trên 1,057 tỷ đồng. 


Đại diện Hợp tác xã trồng cây ăn quả Quang Vinh, xã Thái Long (TP Tuyên Quang)
 hướng dẫn người dân kỹ thuật chăm sóc cây ăn quả có múi. 

Hoạt động có lãi, việc huy động góp vốn, đầu tư cho các mô hình mới của hợp tác xã dễ dàng hơn. Ông Quận minh chứng, năm 2017, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ lạc cho người dân trong xã, hợp tác xã quyết định xây dựng nhà xưởng, lò sấy sản xuất, chế biến lạc theo chuỗi giá trị, công suất 8 tấn lạc khô/mẻ. Tổng nguồn vốn đầu tư xây dựng hết gần 600 triệu đồng, trong khi nguồn vốn vay từ tổ chức tín dụng chỉ được 300 triệu đồng. Hợp tác xã huy động các thành viên trong ban quản trị đóng góp mỗi thành viên trên 50 triệu đồng. Trung bình mỗi vụ lạc, hợp tác xã thu mua khoảng 90 tấn lạc tươi cho bà con và xuất bán ra thị trường hơn 34 tấn lạc khô, giá bán trung bình 19,5 nghìn đồng/kg. 

Số lượng các hợp tác xã tham gia mở rộng dịch vụ sản xuất kinh doanh tương đối phong phú. Cụ thể, toàn tỉnh  có 118 hợp tác xã có doanh thu thực hiện dịch vụ thủy lợi; 6 hợp tác xã có doanh thu từ thực hiện được khâu dịch vụ chuyển giao khoa học kỹ thuật; 17 hợp tác xã có doanh thu thực hiện được khâu bảo vệ thực vật, thú y; 49 hợp tác xã có doanh thu từ việc thực hiện được khâu dịch vụ cung ứng giống, vật tư nông lâm nghiệp; 60 hợp tác xã có doanh thu từ việc thực hiện dịch vụ sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông sản, 8 hợp tác xã thực hiện dịch vụ vốn, tín dụng nội bộ.

Đây là năm đầu tiên doanh thu từ dịch vụ sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số doanh thu của các hợp tác xã, đánh dấu sự thay đổi đáng kể trong tổ chức sản xuất của các hợp tác xã. Các hợp tác xã thực hiện khâu dịch vụ tiêu thụ sản phẩm cho thành viên tiêu biểu như: Hợp tác xã Phúc Sơn (Chiêm Hóa); Hợp tác xã Phong Lưu, Chè Tân Thái 168 (Hàm Yên); Hợp tác xã Thắng Lợi (Yên Sơn); Hợp tác xã Mật ong Phong Thổ (TP Tuyên Quang)... 

Trợ lực từ cơ chế, chính sách hỗ trợ

Để vực dậy kinh tế tập thể, tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ, đặc biệt là cơ chế cho các hợp tác xã nông lâm nghiệp, thủy sản. Riêng trong năm 2018 đã bố trí 841 triệu đồng để tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ hợp tác xã; hỗ trợ 1 tỷ đồng cho 10 hợp tác xã để xây dựng và nhân rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả, các hợp tác xã được tham gia thực hiện các dự án phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới; thành lập mới 25 hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 2012, có phương án sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị. Kinh phí ước tính hỗ trợ các hợp tác xã thành lập mới là 1 tỷ đồng. Trong đó, đã trình Sở Tài chính thẩm định kinh phí hỗ trợ năm 2017 với tổng số tiền là 680 triệu/17 hợp tác xã thành lập mới. 

Nghị quyết 05 của HĐND tỉnh, một nghị quyết chuyên biệt khuyến khích phát triển hợp tác xã nông lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn tỉnh được HĐND tỉnh ban hành ngày 13-7-2016. Theo Nghị quyết này, các hợp tác xã có dự án đầu tư vào sản xuất hàng hóa sẽ được vay tối đa 5 tỷ đồng/dự án, được hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay theo hợp đồng vay vốn giữa hợp tác xã với tổ chức tín dụng cho vay vốn. Đối với các hợp tác xã có dự án đầu tư máy, thiết bị, dây chuyền sản xuất, chế biến, bảo quản sản phẩm nông, lâm nghiệp, thủy sản sau thu hoạch và dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao sẽ được hỗ trợ 80% lãi suất tiền vay theo hợp đồng vay vốn giữa hợp tác xã với tổ chức tín dụng cho vay vốn, mức vốn vay được hỗ trợ lãi suất theo dư nợ thực tế nhưng tối đa là 5 tỷ đồng/dự án.


Nhà xưởng sấy, chế biến sản phẩm lạc khô của Hợp tác xã Nông lâm nghiệp Thổ Bình (Lâm Bình).

Tuy nhiên, số lượng hợp tác xã tiếp cận được nguồn vốn này rất ít. Sau hơn 2 năm triển khai thực hiện nghị quyết, đến tháng 8-2018 mới chỉ có 4 hợp tác xã được tiếp cận nguồn vốn từ nghị quyết này, với tổng số vốn giải ngân 2,6 tỷ đồng, trong khi nhu cầu của các hợp tác xã là gần 12 tỷ đồng. Trong đó, 2 hợp tác xã được vay vốn chăn nuôi trâu thịt tập trung an toàn sinh học gắn với liên kết tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị là Hợp tác xã Nông lâm nghiệp Hoàng Khai được giải ngân 1,2 tỷ đồng; Hợp tác xã Dịch vụ, sản xuất nông lâm nghiệp Hồng Ngọc (Yên Sơn) được giải ngân 800 triệu đồng; Hợp tác xã Nông lâm nghiệp Thổ Bình (Lâm Bình) vay vốn sản xuất, chế biến lạc theo chuỗi giá trị được giải ngân 300 triệu đồng...

Tuy nhiên, việc tiếp cận được nguồn vốn này không phải là chuyện đơn giản. Ông Ma Văn Thiệp, Giám đốc Hợp tác xã Nông lâm nghiệp Hoàng Khai cho biết, so với các hợp tác xã khác, Hợp tác xã Nông lâm nghiệp Hoàng Khai có lợi thế hơn là có trụ sở làm việc và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi làm các thủ tục vay vốn theo Nghị quyết 05, hợp tác xã có kèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này nhưng phía ngân hàng không chấp nhận. Để có vốn sản xuất, các thành viên trong ban quản trị buộc phải thế chấp 6 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của chính gia đình mình để được giải ngân 1,2 tỷ đồng. 

Ông Ma Phúc Giải, Giám đốc Hợp tác xã Nông lâm nghiệp Phúc Sơn (Chiêm Hóa) từng nhiều lần làm đơn vay vốn từ Nghị quyết 05 với số tiền 5 tỷ đồng nhưng chỉ được duyệt khoảng 500 triệu đồng. Ông Giải cho biết, trong một vụ lạc, số tiền của hợp tác xã bỏ ra để thu mua toàn bộ lạc cho bà con trong xã và một số xã lân cận đã lên đến cả tỷ đồng, chưa tính đến việc xây dựng nhà xưởng, lò sấy chế biến lạc khô; xây dựng dây chuyền ép tinh dầu lạc... Số tiền 500 triệu đồng này không giải quyết được hết nhu cầu nên hợp tác xã từ chối khoản vay này. 

Theo Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, khó khăn chủ yếu trong đầu tư vốn cho các hợp tác xã là do quy mô hoạt động của nhiều hợp tác xã còn nhỏ, vốn, tài sản ít, đặc biệt là vốn điều lệ, vốn góp của các thành viên, do vậy ngân hàng gặp nhiều khó khăn trong việc mở rộng quy mô tín dụng, nâng hạn mức tín dụng. Đối với việc cho vay theo Nghị quyết 05, lý giải của các ngân hàng là do đối tượng áp dụng là các hợp tác xã nông lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn tỉnh phải đầu tư sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm theo quy định của pháp luật. Hiện nay, các hợp tác xã trên địa bàn tỉnh chủ yếu phát triển sản xuất theo hình thức nhỏ lẻ, cơ sở vật chất còn thiếu thốn… do đó khó tiếp cận được nguồn tín dụng ưu đãi này. Thêm vào đó, đa số các hợp tác xã nông nghiệp chưa có dự án, phương án sản xuất kinh doanh khả thi, hiệu quả nên việc thẩm định hồ sơ cho vay còn nhiều khó khăn, vướng mắc. 

Phải có sự đột phá về nhân sự

Trước tình trạng thiếu hụt nhân lực có chất xám về làm việc tại các hợp tác xã, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng kế hoạch thực hiện thí điểm mô hình đưa cán bộ trẻ tốt nghiệp đại học, cao đẳng về làm việc ở các hợp tác xã nông nghiệp. 

Theo đó, từ nay tới năm 2020, sẽ hỗ trợ từ 3 - 5 hợp tác xã nông nghiệp tại mỗi tỉnh, thành phố; mỗi hợp tác xã có 3 lao động trình độ cao đẳng trở lên. Trước mắt, trong năm 2018, thí điểm hỗ trợ một cán bộ chuyên môn hoặc kế toán cho mỗi hợp tác xã. Các hợp tác xã thuộc diện ưu tiên hỗ trợ phải là hợp tác xã đã chuyển đổi theo Luật Hợp tác xã năm 2012, có hoạt động liên kết sản xuất tiêu thụ nông sản, có phương án sản xuất, kinh doanh cụ thể. Đồng thời, có phương án sử dụng lao động phù hợp, hiệu quả đối với cán bộ dự kiến tuyển dụng về làm việc cho hợp tác xã. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang xây dựng kế hoạch, triển khai đề án này nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã nông lâm nghiệp trong thời kỳ mới, nhất là để hoàn thành Chương trình xây dựng nông thôn mới, nông thôn mới nâng cao… Các địa phương đang rà soát, xác định nhu cầu của từng xã để thí điểm.    

Bài, ảnh: Trần Liên

Tin cùng chuyên mục