Tiếng việt | English

Diện tích rừng trồng gỗ lớn… còn nhỏ

- Rừng gỗ lớn không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cao cho người trồng, còn có chức năng bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, việc phát triển rừng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh hiện chưa đạt mục tiêu như kỳ vọng.

Lợi ích lớn

Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình hiện là đơn vị có diện tích rừng gỗ lớn lớn nhất trong số các công ty lâm nghiệp thuộc tỉnh quản lý, với 50 ha. Trong đó, năm 2014 đơn vị thí điểm chuyển hóa 10 ha tại xã Tân Tiến; năm 2018 tiếp tục thực hiện 40 ha tại Trung Trực và Xuân Vân (Yên Sơn), diện tích này được thực hiện từ dự án “Trồng rừng gỗ lớn mọc nhanh bằng giống cây keo lai mô” do Trung tâm Khuyến nông hỗ trợ thực hiện, trong đó, toàn bộ giống cây được hỗ trợ 100%, phân bón được hỗ trợ 50%.

Ông Nguyễn Ngọc Tháp, Giám đốc Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình khẳng định, hiệu quả kinh tế của trồng rừng gỗ lớn so với rừng gỗ nhỏ cao gấp nhiều lần tùy theo tuổi khai thác và đường kính cây. Hiện nay, năng suất bình quân rừng trồng nguyên liệu giấy tại tỉnh ta khoảng 60-70 tấn/ha với chu kỳ trồng 5 - 7 năm, 1 ha rừng trồng thu được 60 - 70 triệu đồng. Tuy nhiên, nếu duy trì chăm sóc rừng từ 12 - 14 năm mới khai thác theo chương trình cây gỗ lớn thì doanh thu có thể đạt tới 250 triệu đồng/ha, lợi nhuận gấp đôi so với trồng rừng nguyên liệu giấy. Theo ông Tháp, bên cạnh việc tăng lợi nhuận, trồng rừng gỗ lớn còn tăng khả năng hấp thụ khí cacbon, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái nhờ thời gian trồng kéo dài. 


Cán bộ Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Tuyên Bình kiểm tra rừng trồng gỗ lớn
tại xã Xuân Vân (Yên Sơn). 

Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Chiêm Hóa bắt đầu thử nghiệm trồng 5 ha rừng keo gỗ lớn từ năm 2010. Đến năm 2016, công ty tiếp tục hợp tác với Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam thực hiện 3 ha gỗ mỡ theo hình thức trồng rừng gỗ lớn tại xã Ngọc Hội với mật độ 1.100 cây/ha. So với trồng rừng thông thường, mật độ khoảng 1.660 cây/ha, thì trồng rừng gỗ lớn mật độ ít hơn, năng suất gỗ dự tính cao hơn. 

Một số hộ dân hiện cũng đã tập trung phát triển rừng trồng gỗ lớn. Ông Phạm Ngọc Mạnh, thôn Mỹ Lộc, xã Phú Thịnh (Yên Sơn) hiện có 10 ha rừng gỗ lớn. Năm 2007 - 2008, nhận thấy thị trường tiêu thụ gỗ rừng trồng thuận lợi, giá trị kinh tế tăng lên, đặc biệt là đối với rừng gỗ lớn thay vì xen canh cây màu, ông Mạnh tập trung đầu tư vào cây rừng. 10 ha rừng của gia đình được ông Mạnh phân lô, phân khoảnh để tiện trồng, chăm sóc, khai thác. Để có vốn quay vòng, khi bắt đầu trồng ông vẫn trồng theo mật độ 1.600 -1.700 cây keo/ha, sau khi cây được 3 - 6 năm tuổi, ông tỉa thưa để bán gỗ nguyên liệu, bán cây chống cho các công trình xây dựng, bảo đảm mật độ còn 500 - 700 cây/ha.

Với cách thức sản xuất này, ông  Mạnh vẫn có nguồn thu nhập ổn định từ kinh tế rừng, đặc biệt đến kỳ khai thác rừng gỗ lớn cho giá trị kinh tế rất cao. Từ năm 2015 đến nay, bình quân mỗi năm gia đình khai thác 2,5 ha rừng trồng gỗ lớn, với tổng thu 1,2 tỷ đồng. Ông Mạnh chia sẻ, so với gỗ nhỏ, gỗ lớn giá trị tăng hơn 2 lần, nếu gỗ nhỏ 4 - 5 năm có giá 50 - 55  triệu đồng/ha thì rừng gỗ lớn 12 - 14 năm có giá trên 100 -120 triệu/ha.

Khuyến khích mở rộng diện tích

Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, diện tích rừng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh vẫn tương đối khiêm tốn so với tổng diện tích rừng trồng. Thống kê của đơn vị này cho thấy, toàn tỉnh hiện có khoảng 40.000 ha rừng gỗ lớn trong tổng số hơn 200 nghìn ha rừng sản xuất của toàn tỉnh, trong đó rừng trồng kinh doanh gỗ lớn tại 5 công ty lâm nghiệp thuộc tỉnh quản lý gần 40 ha và chuyển hóa rừng trồng gỗ lớn 24,8 ha. Tại các công ty này cũng đã áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật trồng 42 ha rừng gỗ lớn mọc nhanh bằng giống cây keo lai mô. Diện tích còn lại, theo Chi cục Kiểm lâm, chủ yếu là thống kê từ các diện tích trong dân với các loại cây bản địa như lát, trám, mỡ, bồ đề… Diện tích này phần lớn là manh mún, phân tán, nên việc khai thác không cho sản lượng tập trung.  

Lý do khiến diện tích rừng gỗ lớn chưa nhiều, theo ông Bùi Thu Thủy, Phó Giám đốc Công ty TNHH MTV Tuyên Bình, một phần vì rừng gỗ lớn có chu kỳ kéo dài từ 12 đến 14 năm, nên việc quản lý, bảo vệ gặp nhiều khó khăn. Thêm vào đó, khu vực trồng rừng gỗ lớn phải là những nơi có tầng đất dày, vì sau nhiều năm, bộ rễ của cây ăn sâu vào lòng đất, nếu tầng đất mỏng thì những thiệt hại do mưa gió, dông lốc rất dễ xảy ra, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng rừng trồng. Và quan trọng hơn, theo ông Thủy, từ năm 2016 đến nay, các công ty lâm nghiệp đã không còn được ưu tiên vay vốn phát triển sản xuất từ các ngân hàng thương  mại, để có vốn quay vòng, công ty buộc phải ưu tiên trồng rừng và khai thác theo chu kỳ từ 6 đến 7 năm. 

Ông Đinh Văn Dùng, thôn 31, xã Thái Sơn (Hàm Yên) cho rằng, đa số người trồng rừng có thu nhập thấp, không đủ điều kiện kinh tế để theo chu kỳ khai thác dài cho cây gỗ lớn. Trồng rừng gỗ nhỏ (chu kỳ khai thác từ 4 - 5 năm) có thu nhập nhanh hơn, có thể sớm quay vòng vốn. 

Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, trong bối cảnh tỉnh đã thu hút được nhiều dự án chế biến gỗ xuất khẩu, thì trồng rừng gỗ lớn là một giải pháp quan trọng. Để phát triển mô hình chuyển hóa từ trồng rừng gỗ nhỏ sang gỗ lớn, chi cục tiếp tục tuyên truyền về hiệu quả kinh tế, môi trường cũng như hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng thâm canh gỗ lớn và chuyển hóa từ rừng gỗ nhỏ sang gỗ lớn; đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp, hộ gia đình liên kết đầu tư kinh phí trồng rừng thâm canh gỗ lớn nhằm phát triển diện tích rừng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh, tương xứng với tiềm năng sẵn có và công nghiệp chế biến gỗ tại địa phương.

Bài, ảnh: Trần Liên

Tin cùng chuyên mục