Mới dừng ở mức có nghề
Theo Chi cục HTX và PTNT tỉnh, hiện trên địa bàn tỉnh chưa có làng nghề truyền thống, mà chỉ dừng ở mức làng có nghề theo hình thức tự sản xuất để tiêu dùng, ví như phố Xuân Hòa, phường Minh Xuân (thị xã Tuyên Quang) trước đây thường gọi là phố CCCP (cát, cót, chổi, phên). Mặt khác, có nghề nhưng chưa được xếp hạng là làng nghề do quy mô nhỏ lẻ, mức thu nhập bằng nghề đạt thấp. Theo tiêu chí làng nghề phải đảm bảo có 50% số lao động trong thôn bản tham gia; trong thôn có 30% số hộ dân cùng làm nghề; giá trị sản phẩm từ nghề chiếm tỷ trọng từ 50 đến 70% giá trị sản xuất của cả thôn. Làng nghề truyền thống còn phải có thời gian lưu giữ nghề từ 50 năm trở lên và có 30% số hộ trong thôn sống bằng nghề.
 Cơ sở dệt thổ cẩm thị trấn Tân Yên (Hàm Yên)
|
Mặc dù chưa có làng nghề cụ thể theo quy định, nhưng nghề thủ công trên địa bàn tỉnh ta khá phong phú và mang đậm bản sắc văn hóa của từng địa phương, như: Nghề trồng bông, dệt thổ cẩm, nghề thêu, đan lát mây, tre, nứa và chế biến nông lâm sản.
Trong xu thế hội nhập, trên địa bàn tỉnh phát triển thêm một số nghề mới như: Trồng sinh vật cảnh, điêu khắc gỗ mỹ nghệ, sản xuất vật liệu xây dựng; nghề mây, giang đan xã Hà Lang, xã Trung Hà (Chiêm Hoá), xã Tân Tiến (Yên Sơn); các cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ ở phường Nông Tiến, Phan Thiết, Tân Quang (thị xã Tuyên Quang), Hùng Đức (Hàm Yên).
Khôi phục, cấy nghề và phát triển nghề mới
Nhằm duy trì và phát triển những sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đậm bản sắc văn hoá các dân tộc trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh đã có Quyết định số 71/2006/QĐ-UBND, ngày 22-9-2006 và Quyết định số 04/2007/QĐ-UBND, quy định chính sách khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề trên địa bàn tỉnh. Cùng với đó là chính sách phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trong khu vực nông thôn. Thông qua cơ chế chính sách của tỉnh, về khôi phục nghề truyền thống, cấy nghề mới, phát triển thu hút nhiều lao động ở nông thôn, nhất là ở các vùng khó khăn, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số. Từ cuối năm 2006 đến nay, Chi cục HTX - PTNT tỉnh đã mở 12 lớp dạy nghề cho 2.690 người tại các huyện theo chương trình củng cố, khôi phục làng nghề. Tổng nguồn vốn hỗ trợ dạy nghề của Bộ Nông nghiệp và PTNT hơn 1,027 tỷ đồng. Những nơi chưa có nghề nhưng có điều kiện, tiềm năng phát triển nghề tiến hành cấy nghề tạo thêm nghề mới cho hộ dân có thêm thu nhập để xóa đói giảm nghèo bằng việc trồng nguyên liệu cung cấp cho nơi có nghề như trồng mây, trồng dong riềng, nuôi cá ruộng. Điển hình của cách làm trên là mở lớp đào tạo nghề dệt thổ cẩm và đan lát hàng mỹ nghệ cho các hộ dân thôn Tân Lập, xã Tân Trào (Sơn Dương). Đây là cách khôi phục nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, khách hàng du lịch có nhu cầu mua sắm quà lưu niệm, đảm bảo chất lượng. Cùng với đó là xây dựng và bảo tồn các nghề truyền thống như: nghề dệt thổ cẩm xã Lăng Can; Khuôn Hà; Yên Hoa huyện Nà Hang; cơ sở dệt mành cọ xã Thái Sơn, dệt thổ cẩm thị trấn Tân Yên (Hàm Yên).
Thông qua hình thức dạy nghề và truyền nghề của các nghệ nhân, tăng cường liên doanh liên kết kinh tế với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, hợp tác xã để học tập kinh nghiệm, tìm kiếm thông tin, kêu gọi đầu tư, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nâng cao thu nhập, từng bước cải thiện đời sống người dân nông thôn.  Cơ sở sản xuất mành chiếu tre của Công ty TNHH Lâm Giang tại thôn Vông Vàng, xã Xuân Vân (Yên Sơn) tạo việc làm thường xuyên cho 30 lao động.
|
Chú trọng việc lựa chọn nghề để đào tạo
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh ta có 5 địa chỉ dạy nghề cho nông dân, đó là: Chi cục HTX và PTNT tỉnh; Trung tâm Khuyến công và tư vấn phát triển công nghiệp; Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; Hội Nông dân và Dự án di dân tái định cư thủy điện Tuyên Quang. do chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành, việc dạy nghề cho nông dân theo nội dung khác nhau. Chi cục HTX chủ yếu là truyền nghề, dạy cho nông dân các nghề như đan lát hàng mỹ nghệ, thêu dệt thổ cẩm. Trung tâm khuyến công và tư vấn phát triển công nghiệp chuyên cung cấp thiết bị và hướng dẫn kỹ thuật cho doanh nghiệp nhỏ... Tuy nhiên, việc dạy nghề mới dừng ở mức truyền nghề, mua sắm thiết bị; còn ngành nghề phát triển ra sao, quy mô mở rộng sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm thế nào, thì lại ít được quan tâm. Do sản xuất quy mô nghề nhỏ lẻ (chủ yếu là hộ và nhóm hộ), vốn đầu tư ít, thiết bị thô sơ, ít được ứng dụng tiến bộ kỹ thuật hiện đại, nên sản phẩm hàng hóa sản xuất ra chưa nhiều, tính cạnh tranh chưa cao...
Đồng bào các dân tộc tỉnh ta có đức tính cần cù, đôi bàn tay khéo léo, cùng với sự thông minh, sáng tạo đã tạo ra nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ trưng bày tại Hội chợ quốc tế và trong nước được khách hàng ưa chuộng. Tuy nhiên để nhân rộng mô hình, đào tạo nghề, thu hút nhiều lao động trong khu vực nông thôn, các cấp, các ngành chức năng liên quan của tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện tốt chính sách của tỉnh về khuyến khích phát triển TTCN và làng nghề. Vai trò của các cơ sở đào tạo nghề rất quan trọng. Vì vậy, cần chú trọng lựa chọn đúng các ngành nghề phát huy được lợi thế của từng địa phương để đào tạo. Trên cơ sở việc khôi phục nghề truyền thống và cấy bổ sung thêm nghề mới tìm chọn người đứng đầu có tâm huyết, đứng ra tổ chức sản xuất, vay vốn và tiêu thụ sản phẩm. Cần có sự phối hợp chặt chẽ đào tạo nghề cho nông dân theo nhu cầu, địa chỉ. Có chính sách ưu đãi để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển ngành nghề trong khu vực nông thôn và bao tiêu sản phẩm. Một số ý kiến xung quang việc phát triển nghề và làng nghề trên địa bàn tỉnh
Khuyến khích phát triển TTCN và làng nghề
Hiện tỉnh ta đã có đề án và chính sách khuyến khích phát triển TTCN và làng nghề. Các ngành chức năng và các huyện, thị xã đã có nhiều cố gắng trong việc tổ chức đào tạo nghề; nhưng số người lao động làm nghề, sống bằng nghề vẫn còn hạn chế. Khắc phục tình trạng này, cần triển khai tốt chính sách của tỉnh về khuyến khích phát triển TTCN và làng nghề, bổ sung, sửa đổi chính sách cho phù hợp với tình hình cụ thể của từng địa phương. đặc biệt, trong đào tạo nghề cần lựa chọn đúng các ngành nghề dựa vào lợi thế của từng địa phương, không nên đào tạo những ngành nghề đòi hỏi kỹ thuật quá cao trong khi không chủ động được nguồn nguyên liệu. Việc hỗ trợ đào tạo nghề cần thông qua một đơn vị kinh tế cụ thể như HTX, cơ sở sản xuất... Trong đó, cần lựa chọn một số làng có nghề, tập trung hỗ trợ phát triển thành làng nghề điển hình, qua đó tạo cú huých thúc đẩy sự phát triển các khu vực khác. Ông Đào Đình Huệ Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh
Thiếu mặt bằng sản xuất tập trung
Trung Môn hiện còn 60% dân số theo nghề nông nghiệp. Tuy nhiên, thời gian gần đây, cùng với sự phát triển của xã hội, trên địa bàn xã cũng đã xuất hiện một số doanh nghiệp, hợp tác xã phát triển các ngành nghề TTCN. trong đó, các ngành nghề cơ khí như gò hàn, nhôm, sắt, inox... chiếm ưu thế rõ rệt. Để đầu tư phát triển thành quy mô một làng nghề, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của xã thời gian qua cũng đã có chủ trương cụ thể, như tạo điều kiện về vay vốn, khoa học kỹ thuật cũng như mở các lớp đào tạo ngành nghề cụ thể cho người lao động. Tuy nhiên, khó khăn chính của xã là thiếu mặt bằng sản xuất tập trung. Nếu giải quyết được khó khăn này, chắc chắn việc hình thành làng nghề và phát triển làng nghề có quy mô và chất lượng sẽ nhanh chóng được giải quyết. Ông Phạm Ngọc Lợi Chủ tịch UBND xã Trung Môn, Yên Sơn
Cần tạo mối liên kết giữa các cơ sở sản xuất
Trên địa bàn thị xã Tuyên Quang hiện có 2.439 hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, trong số đó đa phần là làm ăn tự phát, manh mún, quy mô nhỏ. Điều này hạn chế rất nhiều đối với việc hình thành những làng nghề, khu vực nghề tại đây. Trước thực tế đó, thời gian qua, cùng với các cơ quan, ban ngành khác, Phòng Kinh tế cũng đã có nhiều tham mưu với các cấp uỷ, chính quyền cũng như định hướng đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh, trong đó nhấn mạnh đến mối quan hệ “hữu cơ” giữa các cơ sở. Bắt đầu từ việc nắm bắt đặc điểm của địa phương, từ đó hình thành từng khu vực chuyên biệt, trong đó sản phẩm của khu vực này sẽ là nguyên liệu để khu vực khác khai thác. Có làm được như vậy mới có thể hình thành được các làng nghề, cụm nghề có quy mô và chất lượng. Ông Trương Văn Thăng Trưởng phòng Kinh tế TXTQ
Giúp cơ sở chủ động nguồn nguyên liệu
Cơ sở sản xuất chiếu tre lấy nguyên liệu trực tiếp từ Công ty TNHH Lâm Giang, xã Xuân Vân (Yên Sơn). Nguồn nguyên liệu tại chỗ này giúp cơ sở sản xuất chúng tôi tự chủ được trong sản xuất, không lúng túng như nhiều cơ sở khác trong việc tìm nguồn nguyên liệu. Theo tôi được biết, hiện nay, trên địa bàn tỉnh ta có khá nhiều cơ sở sản xuất không chủ động được nguồn nguyên liệu dẫn đến sản xuất tạm thời, gián đoạn, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh, thu nhập của cơ sở và người lao động. Để hình thành và phát triển được các làng nghề có quy mô, yếu tố tiên quyết theo tôi là cần quy hoạch nguồn nguyên liệu. Từ đó, tạo được niềm tin của người sản xuất. Bà Phạm Hồng Thịnh Chủ cơ sở sản xuất chiếu tre Hồng Thịnh, xã Thái Long, TXTQ
Vai trò của các cơ sở đào tạo nghề rất quan trọng
Một số lao động vùng nông thôn miền núi như chúng tôi trình độ văn hóa còn hạn chế, nên việc học các nghề như gò hàn, gia công cơ khí, mộc... là rất phù hợp với trình độ và khả năng nhận thức của mình. Khi người lao động chưa có điều kiện học tập tại những trường đào tạo nghề chuyên nghiệp, thì các cơ sở đào tạo nghề tại địa phương có vai trò rất quan trọng. Đây vừa là nơi chúng tôi học nghề và cũng là nơi bước đầu giải quyết công ăn việc làm.
Sau 5 tháng học việc tại cơ sở sản xuất gia công cơ khí Luân Bình (thị trấn Nà Hang, Nà Hang), đến nay tôi có thể hàn và sơn các sản phẩm cơ khí như cửa sổ, lan can cầu thang, khung cửa kính... mỗi tháng có thu nhập 2 triệu đồng, không chỉ giúp đảm bảo cuộc sống bản thân, còn tiết kiệm gửi về gia đình. Khi có tay nghề vững, tôi trở về quê xã Phú Bình (Chiêm Hóa) mở cửa hiệu gia công cơ khí của riêng mình. Ông Hà Văn Dũng Xã Phú Bình, Chiêm Hóa |
Nhóm PV Kinh Tế
|