TQĐT - Nói tới Hàm Yên là nói tới xứ sở về cây thuốc dân gian. Thần tích ngôi Đền Ông huyện Hàm Yên có viết: “Đây là xứ sơn kỳ thuỷ tú, vạn vật tốt tươi, con người tươi đẹp, ruộng nhiều lúa chín, đất nở đầy hoa, chim kêu vượn hót, thuốc quý tiềm tàng, sơn hào vô tận… nhờ khí hạo nhiên”. Cho thấy, đây là xứ sở của người đẹp và phong cảnh đẹp, thiên nhiên giàu sức sống. Trong đó có nguồn thuốc thiên nhiên đầy bí ẩn, sống bền bỉ làm nên một tiềm năng quý giá của miền sơn dã. |
 Thiếu nữ dân tộc Cao Lan, thôn 3 Đoàn Kết, xã Thành Long (Hàm Yên). Ảnh: Chúc Huyền | Xã Tân Thành, huyện Hàm Yên nằm bên bờ tả sông Lô, có tên Bến Thuốc, và hai thôn Thuốc Hạ và Thuốc Thượng, thực là tên gọi có nguồn. Theo các cụ cao niên người địa phương, sinh từ đầu thế kỷ XX cho biết: Bến Thuốc xưa là nơi thuyền bè neo đậu, mua bán sơn hào hải vị, đặc biệt là sa nhân, mộc nhĩ, nấm hương, gạc nai, mật gấu, huyết lình, xương hổ, sơn thục, tầm gửi, mật ong...
Đồng bào Tày, Dao từ bao đời sống trên mảnh đất này vẫn tự bảo vệ mình bằng cây thuốc tự nhiên. Nơi đây có câu chuyện liên quan tới một cô giáo có trình độ thạc sĩ dân tộc Cao Lan, người được hưởng “ân huệ” đó. Khi xưa, có cặp vợ chồng lấy nhau đã 5 năm chưa có con. Người vợ đem nỗi niềm tâm sự với một chị đông con cùng xã. Ngay ngày hôm sau, người đó sang sông tìm gặp cô bạn tùng người Dao nhờ tìm thuốc muộn con. Đêm hôm đó, bà đeo dao vào rừng tìm mấy cây tầm gửi, về thái nhỏ chia thành từng gói, gồm 2 loại: Thuốc vợ và thuốc chồng, rồi chặt nứa làm ống lam thuốc cho bạn mang về giúp người thân. Quả nhiên, mười tháng sau, cặp vợ chồng hiếm muộn sinh được đứa con đầu lòng và liên tiếp sau đó là 4 người con cả trai và gái. Cô giáo thạc sỹ chính là một trong những người con của cặp vợ chồng ấy. Thực là thuốc Tiên làng Bát.
Người Bến Thuốc xưa có tục làm lễ cây thuốc vào ngày 7 tháng Giêng. Người được thầy thuốc cứu sống, không trả tiền bạc mà nhận thầy thuốc làm anh em, phải làm lễ cây thuốc. Ngoài ba mươi tuổi không mắc chứng trộm cắp, đánh bạc, đánh người mới được truyền cây thuốc. Con dâu, người ở rể đời và bệnh nhân hiếu thảo cũng được truyền cây thuốc. Trên đường đi hái thuốc lỡ chém vào tay, phải ngừng hái thuốc. Sau này khi thuốc Tây lấn át, lệ ấy chỉ còn lại ở một số nhà dân.
Theo đồng bào ở đây, có cây thuốc ban ngày uống thì lành, uống về đêm thì độc, uống trời mưa thì tốt, uống trời nắng thì đau. Có loại lá thuốc dùng đắp ngoài, có loại uống trong, có loại dùng tắm gội, có loại dùng xông, có loại dùng ngâm, rửa; có loại cây riêng cho người phụ nữ “sợ đàn ông”; có loại cây dành riêng cho đàn ông “sợ đàn bà”; có loại cây uống vào sinh đông con; có loại cây tránh sinh con; có cây hái tứ thời, có cây chỉ hái vào tháng Chạp; có cây chỉ hái ngày, có cây chỉ hái đêm… Dân gian có câu: Trai đi rừng nhớ mang dao mang nỏ, gái đi nương nhớ giắt lá sau lưng… Ở một số vùng sâu xứ lâm tuyền, trai gái rất “tự do” mà chẳng ai rơi vào cảnh “lục màn tàng” (con đẻ hoang) như các vùng đồng bằng và đô thị. Những cô gái vùng Lô-Gâm không mất tiền phấn sáp để phô duyên, mà lại có nền da tươi nhuận hơn cả gái thị thành, đó là nhờ tục tắm lá của người Tuyên. Nhờ trời đất, thiên nhiên, cha mẹ, con gái Tuyên Quang mới đẹp, mới thành ra câu nói “Chè Thái gái Tuyên”.
Tiềm năng miền sơn dã là rất lớn, cây thuốc thiên nhiên vẫn còn nhiều bí ẩn với chúng ta. Nhiều cây cỏ trong dân gian đã trả lại sinh mệnh cho nhiều người. Ứng xử tốt đẹp với cỏ cây miền sơn dã thì ân huệ thiên nhiên sẽ đến với chúng ta.
PGS.TS. Trần Mạnh Tiến Trường ĐHSP Hà Nội
|