TQĐT - Bệnh viện Đa khoa Tuyên Quang mỗi ngày có khoảng trên 2.000 người ra vào làm việc, khám, chữa bệnh. Số lượng người nhiều như vậy là cơ hội dễ ...
Báo Tuyên Quang luôn đồng hành cùng bạn đọc
Phát triển đảng viên trong lực lượng dân quân, tự vệ
Hàm Yên: Hướng tới một vụ mùa thắng lợi
Phong trào cựu chiến binh làm giàu ở Sơn Dương
TQĐT - Năm học lớp 6, Trường THCS Thái Hòa (Hàm Yên), Tạ Bá Hương đã biết làm thơ nhờ có sự “tiếp sức” của cô giáo dạy văn Lê Thị Hưng. Giờ anh vẫn thuộc lòng những vần thơ viết về nàng Kiều trong Truyện Kiều của đại thi hào ...
TQĐT - Nhắc đến anh Vũ Hồng Cao, hội viên chi hội CCB thôn 15, xã Lang Quán (Yên Sơn), nhiều người vẫn biết đến anh là một cựu chiến binh đã vượt khó bằng sức lao động vươn lên làm giàu chính đáng.
TQĐT - Sau khi Báo Tuyên Quang số 4909, ra thứ bảy, ngày 18-5-2013 và Tuyên Quang điện tử đăng bài “Một cháu bé cần được giúp đỡ” của tác giả Nguyễn Trần Bé, viết về hoàn cảnh cháu Dương Chí Cao, ở thôn Rộc, xã Hợp Thành (Sơn ...
Tiếp đến đầu thế kỷ XX, thời đại của chữ Quốc ngữ, xuất hiện nhiều cây bút phong tục học như Nguyễn Văn Bân, Nguyễn Văn Huyên, Lâm Tuyền Khách, Lô Giang Khách, Lôi Giang Khách, Hà Châu Lữ Khách, Hà Sơn, Trọng Thủy... đã đi sâu khám phá cuộc sống của các cộng đồng dân tộc thiểu số từ Bắc tới Nam. Các công trình đó được đăng tải trên các tờ Đông Pháp, Ngọ báo, Đông Phương, Văn học Tạp chí v.v... Trong cuộc hành trình ấy, Nguyễn Văn Huyên đã để lại nhiều tài liệu lý thú về mảnh đất Tuyên Quang.
Về ái tình của người Tày được Nguyễn Văn Huyên đề cao như văn minh luyến ái của Âu châu. Thực tế cho hay, từ tình yêu đến hôn nhân của người Tày rất tiến bộ nên đồng bào đã có câu: “Thương cắn shíp vằn tàng cũng sở, bố thương căn lườn tở kéng lườn nủa cụng quây”. Nghĩa: “Yêu nhau mười ngày đường vẫn ngắn, không yêu nhà kề cận cũng xa”. Khi trai gái có nhu cầu kết hôn, nhà trai sẽ cho người mang lễ trầu cau sang nhà gái dạm hỏi, nếu nhà gái đồng ý, sau một thời gian sẽ làm lễ vấn danh xem tuổi “xung hợp” và nhận lễ rượu thịt; ít lâu sau xin làm lễ “khát cằm” (dứt nhời) nhà trai mang tới 4 con lợn 12 đôi gà thiến. Sau lễ khát cằm là lễ nghênh hôn, trước khi cưới cô gái chuẩn bị ít quà biếu những “lang quân hụt” và các “lang quân hụt” sẽ biếu lại cô chút quà lưu niệm. Người chủ hôn là ông Quan làng điều hành và một người giúp việc là “Pả me”. Hai người phải giỏi giao tiếp với họ hàng nhà gái. Khi nhà trai đến đón dâu, những cô bạn dâu và Quan làng với Pả me bên nhà gái đứng chờ, họ chăng ngang lối vào nhà một sợi dây, nhà trai bỏ ít tiền ra rồi vào làm thủ tục gọi là “làm văn” để sẵn sàng cho hai bên Quan làng và Pả me hát đối đáp. 
Lễ đón dâu trong đám cưới dân tộc Tày. Ảnh: Ngọc Chiến
Nội dung bài hát bên nhà gái: “Ta hội đây như bát tiên đi phó hội Tam Sơn, gặp ngày lành tháng tốt cúng Thần cho song thân khang thọ, không biết mọi người đi đâu mà sang trọng thế này, tưởng như Nho sinh thi đỗ đem vật báu vinh quy bái tổ, xin nói một lời cho hay!”.
Nhà trai đồng thanh trả lời: “Xin người Trần Châu cho biết, kể từ khi én bắc nhạn nam đã có tin đi mối lại tơ hồng trao tin, đôi bên đã định vui duyên Tần tấn, nay phái tôi về đây nói để người hay. Cửa nhà xin người rộng mở cho chúng tôi vào, vui cười hỉ hả mà thôi!”.
Nếu nhà gái muốn thử tài nhà trai thì tiếp tục đưa ra câu hát đối khó hơn, buộc vị Quan làng và Pả me nhà trai phải hát đáp để được rỡ dây chăng và qua vật cản vào nhà. Sau khi nhà gái nhận các lễ vật và chuẩn bị mời tiệc rượu nhà trai, chú rể phải làm lễ gia tiên nhà gái do thầy Tạo chỉ dẫn: Trên bàn thờ để một bông lúa, vị Quan làng đọc một thiên về sự tích cây lúa, ngụ ý khuyên chú rể phải biết dàn xếp quan hệ chị dâu với em chồng trong đời sống sau này. Sau lễ đó mới vào tiệc, người ta bưng ra một mâm gồm 10 cái bát trên đậy giấy đỏ, chín cái đựng rượu, 1 cái đựng nước lã. Ông quan làng bên nhà trai cầm xiên chọc vào một trong 10 bát đó, nếu đúng vào bát nước thì không phải uống rượu, nếu đúng bát rượu thì phải uống cả 9 bát.
Tiếng cười sẽ rộ lên vui vẻ… Xen vào tiệc có lễ “phong thư” để chàng rể nghe những lời ca ngợi của các “chàng rể hụt” với nàng dâu mới… Cô dâu nào càng có nhiều “phong thư” càng hãnh diện về mình. Tiệc xong, đến giờ đón dâu, ông Quan làng xin phép nhà gái đưa dâu về nhà. Nội dung lời xin dâu: Giờ này, giờ nguyệt tiên đại đức, giờ này giờ ngũ phúc lâm môn, chúng tôi xin lễ càn khôn trở gót; nhà người đại nhân đại đức, nuôi chúng tôi như lũ gà rừng; chúng tôi xin lui quân trở lại, sợ nữa rượu say dại miệng người cười... Đồng thời thay mặt nhà trai ông Quan làng chúc phúc, chúc thọ cho gia đình nhà gái:
Gặp ngày thiên ân đại xá, cất miệng xin hai ông bà nhạc, cất miệng xin họ mạc thông gia, cất miệng xin quý chức phương xa, đến dự chúc chữ thọ vạn tuế, thiên ân, đều được bình an mát mẻ; xin xe hoa trở gót lui nhà, đem cánh hoa sung để ông bà tôi mừng biết mà thôi… Con dâu ra lạy cha mẹ và chào gia đình họ hàng theo Quan làng và Pả me về nhà chồng. Đến nhà chồng cô lại phải nghe ông thầy cúng khấn kẻo “cái ma” nhà chồng không nhận… Trường hợp, trai gái yêu nhau, nhà trai nghèo chưa có tiền hôn lễ, chàng trai có thể xin ở rể, họ tự do sống thành chồng vợ, sinh con đẻ cái, bình đẳng hòa nhập cộng đồng. Khi có đủ tiền tài họ sẽ tiến hành hôn lễ theo phong tục. Nếu không may một người qua đời, thì con cháu vẫn làm lễ “cưới cho ông, bà” theo lệ tục. Việc tái giá của người phụ nữ Tày không có trở ngại về thành kiến; con cái riêng, chung đều có quyền lợi như nhau.
Tục ngữ Tày có câu: “Sắc lộn lại kin ngoan, lục màn tàng khôn khẻo”. Có nghĩa: Rau lộn lạo ăn ngon, đứa trẻ hoang khôn khéo nói lên hiện trạng tự nhiên của nhân sinh trong cuộc sống cộng đồng. Xem ra, những mỹ tục đường rừng xưa khác biệt với đường xuôi, nơi xưa kia những hạng “không chồng mà chửa” không bị các ngài chánh, phó lý “phạt vạ” giữa đình thì cũng lãnh án “gọt gáy bôi vôi” rồi! Khi đó giữa xứ sở lâm tuyền lại tồn tại câu ca: Gái Đầm Hồng không chồng cũng chửa, trai Bản Ty không vợ có con. Song, sống cần có gia đình, lứa đôi hạnh phúc là khát vọng của mỗi đời người. Ca Dao Tày có câu:
Mì nhàu mì nhả bố mì phon,
Mì phục mì phà bố mì cần nòn!
Nghĩa: Có trầu có vỏ lại không vôi,
Có chăn có chiếu chẳng có đôi!
Vấn đề tình yêu và hôn nhân xưa của thanh niên Tày châu Đại Man xưa phản ánh những mỹ tục hồn nhiên của đồng bào. Ngoài sinh hoạt vật chất, còn có những sinh hoạt tinh thần phong phú của không gian văn hóa đường rừng. Trong đó có lời ca tiếng hát thể hiện cảm hứng vui tươi về tình yêu và hạnh phúc. Đó là cái đẹp về thời gian, không gian, về tình người và lương duyên đôi lứa, có trời đất và có người “se”. Đặc biệt lễ “phong thư” là một nét văn hóa độc đáo trong hôn lễ ở đồng bào Tày không dễ gì có được ở những nơi “văn minh đô thị”? Từ truyền thống phong tục cho hay: Tình yêu và hôn nhân của nam nữ thanh niên Tày đã cách ly mặt trái từ Nho giáo (luật “tam tòng”, “nam tôn nữ ti”). Cho nên trong đời sống cộng đồng Tày rất ít bi kịch về tình yêu đôi lứa cũng như xung đột vợ chồng do phong tục gây ra như cư dân vùng nông thôn đường xuôi và đô thị. Tình yêu tự do và hôn nhân là ngày hội đẹp nhất của đời người, một nếp sống văn minh có tự ngàn xưa của cộng đồng cư dân xứ Tuyên.
Ý kiến bạn đọc