Tin tức nổi bật
Nghề trồng rừng ở Tân Long (29/3/2013)
TQĐT - Những vạt đất trọc lốc hoặc những quả đồi đầy lau lách loang lổ được phủ một lớp áo mới từ cây keo giống. Gần chục năm sau, cả vùng ấy, cây to tít tắp và cho thu hoạch tiền tỷ. Câu chuyện làm giàu từ trồng rừng ấy chẳng phải đâu xa mà ngay thôn 7, xã Tân Long (Yên Sơn), nơi cách thành phố Tuyên Quang chưa đầy chục cây số…
Nhạc sỹ Trần Ngoan nặng lòng với âm hưởng dân ca

TQĐT - Giữa cái nóng như đổ lửa của mùa hè, tôi tìm đến nhà nhạc sỹ Trần Ngoan, hội viên Hội Văn học-Nghệ thuật tỉnh ở thôn 1, xã Kim Phú (Yên Sơn). Căn nhà của nhạc sỹ mới được xây dựng lại khang trang, đang chờ lăn sơn. Mời ...

Xí nghiệp Địa chất 109 Sơn Dương hỗ trợ cháu Dương Chí Cao 20 triệu đồng

TQĐT - Sau khi Báo Tuyên Quang số 4909, ra thứ bảy, ngày 18-5-2013 và Tuyên Quang điện tử đăng bài “Một cháu bé cần được giúp đỡ” của tác giả Nguyễn Trần Bé, viết về hoàn cảnh cháu Dương Chí Cao, ở thôn Rộc, xã Hợp Thành (Sơn ...

Rất đáng báo động

TQĐT - Những năm đổi mới, hệ thống ngân hàng cả nước đã có sự phát triển khá nhanh gồm các ngân hàng trong nước, nước ngoài, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế đất nước.

Các anh đã sống như thế...

Thứ bẩy, ngày 21/7/2012, 8:42

TQĐT - Các anh mỗi người ở một quê. Tuổi trẻ các anh nhuốm mùi khói bom, súng đạn, sốt rét rừng già… Tinh thần của các anh được hun đúc từ tình yêu quê hương, đất nước, yêu hòa bình. Đất nước không còn tiếng súng, các anh dời quân ngũ, trở về cuộc sống đời thường với một cơ thể không lành lặn nhưng vẫn vẹn nguyên tinh thần, khí phách của một thời hùng binh... Các anh đã sống như thế, không khuất phục gian lao. Đó là các thành viên trong “Ngôi nhà thương binh” xã Hồng Lạc (Sơn Dương).

“Ngôi nhà thương binh”

Ở  tỉnh ta, duy nhất xã Hồng Lạc (Sơn Dương) có Hội Thương binh. Những người một thời binh lửa, để lại một phần cơ thể nơi chiến trận, trở về sum họp lại như anh em một nhà, lập thành một “đội hùng binh thời bình” đánh tan “giặc đói”. Những lúc rảnh rang công chuyện, tạm quên mối lo chuyện cơm áo thường ngày, các anh tìm đến nhau ôn lại kỷ niệm chiến trường; những trận đánh tàn khốc, cướp đi bao sinh mạng của đồng đội, nỗi đau không thể nguôi ngoai trong trái tim mỗi người lính.


Ao cá của Hội Thương binh xã Hồng Lạc (Sơn Dương).


“Lẽ ra tôi chết rồi, nhưng anh ấy đã giành lấy hiểm nguy. Sự dũng cảm, hy sinh của anh ấy ám ảnh tôi suốt cuộc đời này...”. Mắt anh Hoàng Văn Nhượng, thương binh hạng 2/4, ở thôn Kho 9 nhòe đi khi nhớ lại những trận đánh tại chiến trường miền Đông Nam Bộ. Học xong THPT, thi đỗ Đại học Nông, Lâm Thái Nguyên nhưng anh đã gác lại con đường đèn sách, viết đơn tự nguyện lên đường nhập ngũ. Anh bảo rằng, đất nước có xâm lăng làm trai mà không lên đường đánh giặc thì còn đâu là chí nam nhi. Thời ấy là thế, sống và chiến đấu bảo vệ giang sơn là chân lý. Họ xông pha trận mạc, coi cái chết “nhẹ tựa lông hồng”. Trong trận đánh ở Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương năm 1969, nhiệm vụ của anh Nhượng là bố trí trận địa tiến đánh quân địch nhưng trong đêm tối muôn trùng anh bị con “rết bà” cắn sưng vù bàn chân, đồng đội phải cõng anh 4 km về đơn vị. Trận địa đã bố trí rồi mà chân anh vẫn không thể bước được. Cấp trên đã lệnh cho anh Thục, người quê Hà Bắc (cũ) thay anh làm nhiệm vụ chiến đấu. Anh Nhượng cố gượng dậy để nhận nhiệm vụ nhưng sức khỏe anh không thể... Quân giặc điên cuồng nã súng đạn tối tân, đơn vị anh bị thương vong nhiều, chết 6 người. Anh Thục đã ngã xuống trong trận đánh ấy. Địch vẫn tiếp tục vây hãm, không cho quân ta vào trận địa lấy xác tử sỹ. Anh Nhượng và các đồng đội băng qua đêm tối, trườn qua những lùm cây dại tìm xác anh Thục. Chao ôi, xác anh đã rữa ra rồi, lũ ruồi đông nghịt bu kín xác anh. Trái tim Nhượng như tan ra, đớn đau và uất hận trước tội ác của kẻ thù. Lòng căm thù giặc cuồn cuộn như sóng trào trong trái tim người lính trẻ, Nhượng đã chiến đấu kiên cường cho ngày toàn thắng. Anh đã 3 lần bị thương và mất đi một bên chân phải.

Mỗi lần gặp nhau, anh Nhượng lại kể cho anh em thương binh nghe về những người bạn lính, về người bạn đã “chết thay mình” để cho anh được sống trong hòa bình hôm nay. Anh Phạm Hồng Minh, thương binh hạng 4/4, người thôn Kim Xuyên nói rằng, chiến tranh đã đi vào dĩ vãng nhưng anh Nhượng vẫn chưa hết day dứt về cái chết của anh Thục. Chiến tranh là thế, sự sống và cái chết chỉ trong gang tấc, ai mà lường trước được. Anh em chúng tôi thường động viên anh Nhượng như thế nhưng đến giờ nỗi đau ấy vẫn lớn hơn nỗi đau thể xác mà anh đang phải gánh chịu. Nhưng ở hoàn cảnh đó thì mới hiểu được anh Nhượng. Anh Minh bùi ngùi nói. Anh Minh cũng không thể nhớ đã bao lần đi tìm xác đồng đội như thế, nỗi ám ảnh về số phận con người trong chiến tranh cứ đeo đẳng anh mãi. Nỗi buồn chiến tranh vẫn còn đó cho dù nó đã lùi xa. Những người đồng đội tuổi đôi mươi chưa “một lần biết hôn” vĩnh viễn nằm lại chiến trường sẽ sống mãi trong ký ức các anh, trong lòng dân tộc. Anh Minh nở nụ cười đầy ắp niềm tự hào.


Thương binh hạng 2/4 Hoàng Văn Nhượng (bên phải ảnh), ở thôn Kho 9, xã Hồng Lạc (Sơn Dương).

Trái tim người lính


“Ngôi nhà thương binh” có 30 thành viên đều tham gia cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc chống đế quốc Mỹ xâm lược. Sau ngày toàn thắng (năm 1975) những người lính trẻ trở về với khí thế hào hùng của người chiến thắng. Nhiều người vẫn mang trong mình những mảnh đạn, sức đã yếu đi, sốt rét rừng già vẫn hoành hành, di chứng chất độc hóa học ngấm vào cơ thể, hành hạ cả thể xác và tâm hồn nhưng trái tim người lính vẫn ngùn ngụt tình yêu cuộc sống.

Tình yêu cuộc sống sẽ chiến thắng tất cả. Anh Vũ Tuấn Tú, thương binh hạng 3/4, Chủ tịch Hội Thương binh xã Hồng Lạc khẳng định. Các anh đã chiến thắng mưa bom bão đạn thì trong thời bình cũng phải chiến thắng cái đói, cái nghèo. Đó là một mệnh lệnh. Anh Tú nói với đồng đội mình như thế trong những buổi sinh hoạt hội và tâm tình cùng những người bạn lính tri âm. Anh bảo rằng, thành lập hội cũng là để anh em nương tựa vào nhau mà sống, nương tựa vào nhau để thoát nghèo. Có lúc đồng đội anh thất bại trong làm ăn, nản lòng, buông xuôi tất cả, trái tim anh như xé ra từng mảnh. Thương nhau “gói lại trong lòng”, anh lặn lội đến nhiều nơi tìm hiểu cung cách làm ăn để tập hợp anh em trong hội gây dựng các mô hình kinh tế. Nhiều nghề đã được mở ra, giúp anh em thương binh có việc làm, nâng cao cuộc sống.

Anh Tú bảo, cái chân lý “thương trường là chiến trường” mãi đúng. Trong làm ăn khó có thể tránh được thất bại, điều quan trọng là sự dũng cảm của mỗi người biết đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Hội Thương binh được thành lập từ năm 1987 và chiếu phim là nghề khởi nghiệp đầu tiên của các anh. Anh em thương binh lịch kịch loa đài, đầu băng đĩa, màn hình, máy nổ phục vụ bà con trong xã. Nhưng buồn thay, nghề mới “khai sinh” được 5 ngày thì đã... Thế là toi công sức. Anh Tú vốn là công nhân Lâm trường Sơn Dương, đơn vị có bộ đầu video, máy nổ nhưng ít sử dụng đến. Anh đề nghị với giám đốc Lâm trường được thuê lại để hành nghề chiếu phim, kiếm thêm đồng ra đồng vào nuôi các cháu. Lương hưu ba cọc ba đồng, sao mà đủ nuôi con được. Giọng chùng xuống, anh Tú bảo thỏa thuận đã thành, anh khấp khởi mở nghề, gọi tất cả anh em thương binh cùng làm cho vui. Đây là nghề dịch vụ văn hóa đầu tiên ở huyện, mà phàm cái gì mới cũng đâu dễ chấp nhận. Thấy mấy anh em thương binh bước thấp bước cao, lỉnh kỉnh đầu máy, loa đài, các anh công an khu vực yêu cầu kiểm tra giấy tờ. “Mình đã bảo là đồ đạc đi thuê, chúng tôi thuê để chiếu phim lấy tiền nuôi con, chứ có ăn trộm ăn cắp gì đâu mà...”. Vẫn không được, phải dừng hoạt động vì... đầu video không có đăng ký. Thời ấy cái gì cũng phải có đăng ký, đến là khổ. Anh Tú động viên anh em “Thua keo này, bày keo khác”, phải tuân chỉ mục tiêu “Anh hùng thời chiến, giỏi giang thời bình”, ta cùng nhau làm nghề khác. Rồi anh mở dịch vụ vận tải ô tô, mở xưởng nấm, xưởng mộc, thầu ao nuôi cá... Cả đống nghề, nghề nào cũng có cái vui, cái khó nhưng điều quan trọng là có thêm thu nhập cho anh em củng cố kinh tế gia đình. Ngày trước, đa phần các anh còn rất nghèo, có người không có nhà để ở, phải ở dưới thuyền bè bên bến sông Lô, sống trong căn nhà tranh tre nứa lá... thì giờ đây ai cũng có nhà xây 2 tầng, có người làm được cả biệt tự, sắm được ô tô, nuôi con cái học hành chu đáo. Anh Tú thực sự tự hào về những người bạn lính.

Men theo con đường đất đỏ, gập nghềnh ổ voi, chúng tôi về thăm gia đình các anh trong một chiều hè đầy nắng. Ngôi nhà 2 tầng khang trang của anh Hoàng Văn Nhượng đón hướng Tây - Nam (anh bảo, hướng nhà này rất hợp với người tuổi Tỵ), xung quanh bạt ngàn hoa thơm và trái ngọt. Trong niềm vui yên bề gia thất, anh kể cho chúng tôi nghe biết bao là chuyện về “Ngôi nhà thương binh”, chuyện vỡ đất trồng cây gây rừng, thầu ao thả cá, chuyện “kéo’’ vợ dạy học từ Nà Hang về quê, chuyện xin việc cho con cái... Ông vỗ vỗ vào cái “chân gỗ” và nói, “nó theo mình đi lên Nà Hang thăm vợ suốt đấy”. Tình yêu là chất men say, xóa tan mọi nỗi đau và bệnh tật. Nhớ vợ, anh ngược miền rừng, cái chân gỗ sao mà rảo bước nhanh đến vậy... Anh cười hóm hỉnh. Tình yêu của anh chị đã đơm hoa, kết trái, sinh được 4 người con, giờ đều đã trưởng thành. Cảm động trước tình nghĩa vợ chồng sắt son của anh chị, ông Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Nà Hang hồi ấy đã “cho” vợ ông về quê gần chồng. Con ông giờ đứa làm thầy giáo, đứa làm công nhân, cuộc sống ổn định. Có điều, người con thứ 2 dạy học tận xã Đại Phú, rồi về Đông Lợi gần 10 năm rồi, huyện hứa cho về trường xã được gần gia đình nhưng đến nay vẫn... chưa thấy gì cả.

Hương sen tỏa ngát làm dịu đi cái nóng hầm hập như đổ lửa. Chị Nguyễn Thị Đoàn, vợ anh Phùng Văn Cương, thương binh hạng 4/4, ở làng Vạn Long lượm những bông hoa sen về ướp trà nói với chúng tôi như thế. Chị bảo, loài sen này lãng mạn lắm, những lá sen xòe tán đón từng giọt sương lung linh trong nắng sớm ban mai. Các cụ ta ngày xưa thật là cầu kỳ, cất công lấy những giọt sương trên lá sen làm nước pha trà. Nói trà là một trong tứ khoái quả cũng phải. Nhà chị Đoàn có 10 ha ao nuôi cá, chị trồng thêm hoa sen quanh bờ ao đã mang lại hiệu quả bất ngờ. Sen giữ bờ, giữ nước cho cá tôi sinh sôi. Mỗi năm, vợ chồng chị thu lãi hơn 50 triệu đồng tiền bán sen đấy. Chị Đoàn khoe. Rồi tiền bán sen, tiền cá, tiền nuôi lợn, bán hoa quả, dịch vụ xay xát đã giúp vợ chồng chị xây cất được nhà 2 tầng cho các con, tạo lập cho mỗi đứa 1 mô hình kinh tế trang trại. Anh Cương phấn khởi nói “Của chồng công vợ”, nếu không có chị ấy, anh khó mà có được cơ ngơi như thế này. Cả hai anh chị đều mồ côi cha mẹ từ nhỏ, được ông bà nội nuôi dưỡng, Cương đi bộ đội về các cụ “ghép đôi” cho, sống với nhau đến tận bây giờ, chả có điều tiếng gì.

Những con người một thời “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, là anh hùng thời chiến và thực sự giỏi giang thời bình làm nên bản hùng ca bất tử.

Thành Công

Ý kiến bạn đọc