Nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước (17/5/2013)TQĐT - Tháng hành động vì chất lượng An toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) năm 2013 (từ ngày 15-4 đến 15-5) có chủ đề “An toàn thực phẩm tại bếp ăn tập ...
Hiệu quả từ xã hội hóa các hoạt động văn hóa ở phường Tân Quang
Đại Phú rộn ràng mùa gặt
Bức tranh nông thôn mới ở Nhữ Hán
Tuổi trẻ trong tỉnh nỗ lực tham gia công tác cấp giấy chứng nhận ...
Thị trường cuối năm: Nhiều mặt hàng thực phẩm tăng giá
Các doanh nghiệp chủ động tham gia bình ổn giá trong dịp Tết Nguyên ...
Hội chợ Thương mại Tuyên Quang năm 2010 khuyến khích người Việt Nam ...
Bình ổn giá cả thị trường cuối năm còn nhiều khó khăn
Chợ Phan Thiết chính thức đi vào hoạt động
Thị trường hàng hóa cuối năm: Không có nhiều biến động
TQĐT - Đến huyện Chiêm Hóa vào bất cứ ngày mưa hay nắng, kể cả ở một số thôn bản xa cũng không mấy khó khăn nữa. Bây giờ, đường xá đi lại đã thuận lợi hơn rất nhiều nhờ chương trình bê tông hóa đường giao thông nông thôn.
TQĐT - Với lợi thế tuyến đường Quốc lộ 2 đi qua, huyện Hàm Yên đang là địa bàn có nhiều thế mạnh để phát triển các ngành thương mại, dịch vụ. Thông qua chính sách huyện khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ sở sản ...
TQĐT - Được coi là một trong những vựa lúa của huyện Sơn Dương, vụ xuân năm nay xã Đại Phú gieo cấy được 320 ha lúa, trong đó lúa lai là 150 ha còn lại là lúa thuần. Năm nay, cùng với các giống lúa truyền thống, xã đã đưa các ...
TQĐT - Là tỉnh có thế mạnh về phát triển cây chè, đến hết năm 2011, toàn tỉnh có 8.097 ha chè, trong đó có 7.034,7 ha chè cho thu hái, sản lượng chè búp tươi đạt 49.243 tấn. Trong đó 3 công ty cổ phần Sông Lô, Mỹ Lâm, Tân Trào quản lý 1.585 ha, có 1.530 ha chè cho sản phẩm, năng suất chè búp tươi đạt 86,1 tạ/ha, sản lượng đạt 13.173 tấn, chiếm 28% tổng sản lượng chè búp tươi toàn tỉnh. Chè trong dân 6.512 ha, chiếm 80% diện tích chè toàn tỉnh; sản lượng chè búp tươi đạt 36.070 tấn, chiếm 73,2% tổng sản lượng chè nguyên liệu trên địa bàn.

Mô hình thâm canh chè năng suất cao của nông dân
xã Tứ Quận, (Yên Sơn).
Từng bước nâng cao năng suất lao động, những năm gần đây, việc ứng dụng cơ giới hóa vào sản xuất chè đã được quan tâm đầu tư như: Máy đốn chè, máy hái chè, máy phun thuốc BVTV được đưa vào sử dụng với tỷ lệ ngày càng nhiều. 5 năm trước đây, việc ứng dụng cơ giới hóa vào thu hái sản phẩm chỉ tập trung chủ yếu ở các đội sản xuất của các công ty cổ phần chè Mỹ Lâm, Tân Trào, Sông Lô. Nhưng nay ở khắp các vùng chè trong tỉnh các hộ dân cũng đầu tư mua máy hái phục vụ sản xuất của gia đình và dịch vụ thu hái chè cho bà con trong thôn, xã. Thực hiện chủ trương của tỉnh, ổn định diện tích chè hiện có, tập trung đầu tư thâm canh tăng năng suất, từng bước nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu chè. Từ việc liên doanh liên kết của doanh nghiệp với các hộ dân trong vùng nguyên liệu và nhiều hộ tự bỏ vốn đầu tư chuyển đổi giống chè cũ năng suất thấp, bằng những giống chè mới có năng suất chất lượng cao. Hiện giống chè trung du chiếm 63% cơ cấu giống; chè Shan chiếm 18,67%; còn lại là các giống LDP1; LDP2; PH1; Bát Tiên; Ngọc Thúy.
Để nâng cao nhận thức cho người làm chè sản xuất sản phẩm an toàn, bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe cộng đồng, Sở Nông nghiệp - PTNT đã chỉ đạo các đơn vị thuộc ngành tổ chức tập huấn và tuyên truyền công tác VSATTP cho các xã có diện tích chè sản xuất tập trung. Phối hợp với các Công ty kinh doanh thuốc BVTV tiến hành hội thảo tập huấn về công tác phòng trừ một số sâu bệnh hại chính trên chè theo nguyên tắc 4 đúng, tăng cường sử dụng phân vi sinh, thuốc sinh học để phòng trừ dịch hại, bảo vệ cây trồng. Thêm vào đó các đơn vị chức năng của tỉnh, của huyện thường xuyên tổ chức kiểm tra công tác quản lý, kinh doanh, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở các vùng chè nguyên liệu.
Công ty cổ phần Chè Sông Lô đầu tư nâng cấp nhà xưởng và thiết bị chế biến sản phẩm chè xuất khẩu.
Đáp ứng nhu cầu chế biến nguyên liệu, ngoài 3 doanh nghiệp lớn thuộc tỉnh quản lý, trên địa bàn có 17 cơ sở chế biến chè, với quy mô công suất từ 4 tấn đến 7 tấn/ngày. Tổng năng lực công suất chế biến của các cơ sở này khoảng 280 tấn nguyên liệu/ngày, tương đương với khoảng 47.000 tấn nguyên liệu/năm. Cùng với đó việc chế biến thủ công, quy mô hộ gia đình (máy quay + máy vò chè) chế biến từ 1 đến 3 tạ/ngày. Với các doanh nghiệp Nhà nước, sau khi cổ phần hóa các Công ty đã đầu tư nâng cấp dây chuyền, thiết bị, đổi mới công nghệ, tăng cường quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm. Năm 2009 - 2010 Công ty cổ phần Chè Mỹ Lâm đầu tư 44 tỷ đồng lắp đặt dây chuyền chế biến chè đen công nghệ CTC công suất 75 tấn chè búp tươi/ngày.
Năm 2011, công ty tiếp tục đầu tư dây chuyền chế biến chè xanh theo công nghệ Nhật Bản đã thu hút nguyên liệu và nâng cao chất lượng sản phẩm chè. Công ty cổ phần Chè Sông Lô đầu tư gần 10 tỷ đồng vào xây dựng nâng cấp nhà xưởng, cải tiến thiết bị chế biến chè đen và chè xanh đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Công ty Chè Tân Trào, ngay sau cổ phần hóa đã huy động nguồn vốn của cổ đông đầu tư 3,4 tỷ đồng, mua thiết bị máy tách cẫng màu SOTEX của Nhật Bản, đây là thiết bị tiên tiến nhất trên địa bàn tỉnh. Nhờ có thiết bị hiện đại, đã loại bỏ cẫng và các tạp chất trong chè, nâng cao chất lượng sản phẩm, công ty đã giảm đáng kể phần chi phí. Để mở rộng sản xuất từ quý II năm 2011, công ty tiếp tục đầu tư 1,5 tỷ đồng vào mở rộng nhà xưởng và mua mới 15 máy vê viên tạo hình theo công nghệ chế biến chè Ô Long của Đài Loan. Chú trọng nâng cao chất lượng gây dựng uy tín, thương hiệu sản phảm nên trên 90% sản phẩm của công ty xuất khẩu sang các nước Trung Á, đài Loan, Xê ri lan ca, Kê-Ni-A. Từ 2007 đến nay, Công ty cổ phần Chè Tân Trào được Bộ Công thương chọn là 1 trong 10 doanh nghiệp xuất khẩu chè có uy tín nhất trong cả nước và được Hiệp hội chè chứng nhận trong nhóm G10 (10 công ty đứng đầu xuất khẩu chè Việt Nam). Trong các công ty cổ phần chè, năm 2011 xuất khẩu chè ra nước ngoài có giá bán từ 1,4 đến 1,6 USD/kg.
Để có thu nhập ổn định cho người làm chè, từng bước nâng cao giá trị sản phẩm chè Tuyên Quang, ngành chức năng cần có những giải pháp đồng bộ. Bên cạnh hỗ trợ các doanh nghiệp, đầu tư đổi mới thiết bị áp dụng công nghệ tiên tiến trong chế biến, công tác quản lý nâng cao chất lượng ngay từ khâu nguyên liệu rất quan trọng. Từ nâng cao chất lượng nguyên liệu, đảm bảo sản phẩm sạch không có dư lượng thuốc sâu. Nâng cao giá trị sản phẩm xuất khẩu là điều kiện để các doanh nghiệp nâng giá thu mua nguyên liệu và tiếp tục mở rộng sản xuất công nghiệp tạo đà cho kinh tế phát triển.
Ý kiến bạn đọc