Quản lý hồ sơ và cơ sở dữ liệu đảng viên: Cẩn chủ động, kịp thời và đồng bộ (4/3/2013)TQĐT - Sinh Long là xã còn nhiều khó khăn của huyện Nà Hang, địa hình chủ yếu là đồi, núi. Diện tích đất canh tác nông nghiệp của xã chỉ chiếm khoảng ...
Thành phố Tuyên Quang: Phòng chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm
Chi bộ Ban Tuyên huấn (Bộ CHQS tỉnh): Gương mẫu làm theo Bác Hồ
Lừa đánh bạc để chiếm đoạt tài sản
Khai mạc Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số tỉnh Tuyên Quang năm ...
Quản lý hồ sơ và cơ sở dữ liệu đảng viên: Cẩn chủ động, kịp thời và ...
Đảng ủy xã Đội Bình kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện Nghị quyết ...
Đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng công tác và lề lối làm việc
Phát triển Đảng trong lực lượng dân quân tự vệ và dự bị động viên
Đảng bộ Nà Hang: Chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo
Giải pháp phát triển đảng viên mới
TQĐT - Ông Nghiên Bút Ngọc, lão thành cách mạng ở tổ 3, phường Phan Thiết (TP Tuyên Quang) mới đây đã về với tiên tổ. Nhưng không phải ai cũng biết được rằng chính ông và dòng họ Nghiên ở xã Thanh La, nay là xã Minh Thanh (Sơn ...
TQĐT - Cháu Dương Chí Cao, con của anh Dương Văn Cảnh và chị Nguyễn Thị Hồng, ở thôn Rộc, xã Hợp Thành (Sơn Dương) hiện nay đã ba tuổi, nhưng chỉ nặng 6 kg và nhỉnh hơn đứa trẻ một tuổi.
TQĐT - Trong những ngày này, du khách trong và ngoài tỉnh nườm nượp đổ về địa danh Tân Trào lịch sử - “trái tim” của Việt Bắc, của cả nước trong những năm tháng chống thực dân Pháp xâm lược. Giờ đi trên con đường “tự do” về chiến ...
TQĐT - Nhân dịp kỷ niệm 60 năm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951) tại Kim Bình (Chiêm Hóa), Tỉnh ủy tổ chức Hội thảo khoa học “Đại hội II của Đảng tại Tuyên Quang - Thủ đô kháng chiến”. Báo Tuyên Quang trân trọng trích giới thiệu một số tham luận tại Hội thảo.
Kim Bình - Nơi thành lập Báo Nhân Dân
Đồng chí Thuận Hữu
"... Ngày 16-2-1951, Đại hội II của Đảng ra Nghị quyết xuất bản một tờ báo, kế tục sự nghiệp của các tờ báo Thanh niên, Cờ giải phóng và Sự thật, lấy tên là Nhân Dân.
Như vậy, khi Đảng ta trở lại hoạt động công khai, việc xuất bản tờ báo làm cơ quan ngôn luận của Đảng là vinh dự thật lớn lao nhưng trách nhiệm cũng rất nặng nề đối với những người làm báo Nhân Dân. Qua 60 năm xây dựng, trưởng thành, Báo Nhân Dân thường được sự quan tâm chỉ đạo của Vị lãnh tụ - Nhà báo Hồ Chí Minh vĩ đại, của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng qua các thời kỳ và bằng rất nhiều Chỉ thị, Nghị quyết của T.Ư Đảng. Nhưng dành riêng cho báo Nhân Dân một Nghị quyết của Đại hội Đảng thì chỉ có một. Và, Nghị quyết đó ra đời chính ở Kim Bình, Chiêm Hóa, Tuyên Quang. Nghị quyết nhấn mạnh:
"Để tuyên truyền chủ nghĩa và động viên đảng viên và quần chúng nhân dân thực hành chính sách của Đảng, Đại hội quyết định Đảng Lao động Việt Nam xuất bản một tờ báo, lấy tên là Nhân Dân, cơ quan Trung ương của Đảng. Báo Nhân Dân ra hằng tuần, khi nào có điều kiện sẽ ra hằng ngày. Đối tượng chính của Báo Nhân Dân là đảng viên ở các chi bộ và quần chúng nhân dân... Cơ quan chỉ đạo các cấp của Đảng, nhất là trung ương, các khu và các cán bộ phụ trách mọi ngành của các cấp ủy ấy, có nhiệm vụ viết bài cho Báo Nhân Dân. Mỗi cấp ủy Đảng, từ tỉnh trở lên, phải chỉ định một đồng chí cấp ủy viên làm thông tín viên cho tờ báo. Các tỉnh đảng bộ phải bảo đảm việc phát hành đều đặn tờ báo của Đảng xuống tận chi bộ".
Nghị quyết khẳng định:
- Lấy tên báo là Nhân Dân, thể hiện ý chí phục vụ sự nghiệp cách mạng của nhân dân.
- Danh nghĩa hoạt động: cơ quan Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam.
- Tính chất: Báo thời sự, chính trị của Đảng.
- Nhiệm vụ, nội dung cơ bản: Tuyên truyền, cổ động, tổ chức toàn dân đoàn kết đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi. Báo đặt lên hàng đầu nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục đường lối, chính sách của Đảng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, đem lại cho họ nhận thức đúng đắn về tình hình, nhiệm vụ. Báo phản ánh có trọng điểm tình hình kháng chiến và cách mạng trong cả nước, góp phần động viên, bồi dưỡng các phong trào thi đua yêu nước giết giặc lập công, tăng gia sản xuất, xây dựng hậu phương, củng cố, phát triển, bảo vệ chính quyền nhân dân...
... Vậy là tại mảnh đất xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, cách đây tròn 60 năm, Đảng ta đã khai sinh ra tờ báo của mình và chính mảnh đất này đã trở thành nơi chôn nhau, cắt rốn của tờ Báo Nhân Dân. Đội ngũ những người làm báo Nhân Dân đã, đang và sẽ mãi mãi ghi nhớ điều đó...
Thuận Hữu
Ủy viên BCH TW Đảng,
Tổng Biên tập Báo Nhân Dân
Bối cảnh lịch sử Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng
Giáo sư Đinh Xuân Lâm
Cách mạng Tháng Tám thành công, chỉ sau hai tuần, vào ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và nhân dân thế giới là nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ra đời... Trong bối cảnh đó, nước Việt Nam cần có hòa bình để kiến thiết đất nước, vì vậy Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã kiên trì giải quyết mối quan hệ bang giao hòa bình và hợp tác với Chính phủ Pháp. Việt Nam đã nhân nhượng ký Hiệp định sơ bộ (ngày 6-3-1946) và Tạm ước Việt - Pháp (ngày 4-9-1946). Nhưng thực dân Pháp đã phản bội các văn bản vừa được ký kết chưa ráo mực, trắng trợn phá hoại cuộc đàm phán ngoại giao giữa Việt Nam và Pháp... nhằm thực hiện âm mưu đặt lại toàn bộ ách thống trị trên đất nước ta.
Trước tình hình ngày càng nghiêm trọng đó, quân và dân ta vẫn bình tĩnh đối phó và khẩn trương chuẩn bị. Tình thế khẩn cấp đòi hỏi Đảng và Nhà nước - đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải có một sự chọn lựa lịch sử, phải kịp thời có một quyết định chiến lược để xoay chuyển vận nước đang lâm nguy. Đúng 20 giờ ngày 19-12-1946, mật lệnh chiến đấu đã được phát ra. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được truyền đi rộng rãi khắp cả nước... Tiếp đến ngày 21-12-1946, Người đã gửi thư đến nhân dân Việt Nam, nhân dân Pháp và nhân dân các nước Đồng Minh nói rõ mục tiêu và ý chí đấu tranh vì độc lập tự do của Việt Nam... Điều có tính chất quyết định là Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hạ quyết tâm chiến lược mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc đúng lúc và xác định được từ đầu những nội dung cơ bản về quan điểm, đường lối kháng chiến là chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, tự lực cánh sinh và nhất định thắng lợi... Về chính trị và ngoại giao, sức mạnh và uy tín của Việt Nam được tăng cường rõ rệt. Lực lượng xã hội chủ nghĩa trên thế giới được củng cố và tăng cường... Các nước xã hội chủ nghĩa sau khi lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam đã ủng hộ Việt Nam về tinh thần và viện trợ cho Việt Nam về vật chất...
Trong bối cảnh thuận lợi đó, không phải không có rất nhiều khó khăn. Cụ thể là đế quốc Mỹ càng tăng cường chạy đua vũ trang, lập Khối quân sự Bắc Đại tây dương (NATO) tháng 9-1949, đẩy mạnh cuộc "chiến tranh lạnh", tiếp tay cho các nước đế quốc khác trong cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa... Sự nỗ lực chiến tranh của Pháp và Chính phủ "quốc gia" Mỹ viện trợ đã gây cho ta nhiều tổn thất, nhưng chúng không thể xoay ngược được tình thế trên chiến trường...
Chính vào thời điểm thuận lợi này, Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng đã họp ở Chiêm Hóa (Tuyên Quang) tháng 2-1951, quyết định những sự kiện trọng đại về phương châm, đường lối, về tổ chức chung cho ba nước Đông Dương và riêng cho mỗi nước...".
Giáo sư Đinh Xuân Lâm
Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam
Tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của Đại hội Đảng lần thứ II
"... Nếu Hội nghị thành lập Đảng 1930 số đảng viên của Đảng mới 310 đồng chí, Đại hội I của Đảng (1935) số đại biểu là 13, thay mặt cho 552 đảng viên của toàn Đảng và cả 2 sự kiện trọng đại đó đều diễn ra trên đất nước bạn (Trung Quốc), thì Đại hội II của Đảng (11-19-2-1951) được tổ chức "ở trung tâm khu tự do rộng lớn, với hơn 200 đại biểu, đại diện cho hơn 76 vạn đảng viên". Chỉ riêng số lượng đảng viên của Đảng và số đại biểu dự Đại hội đã cho thấy sự trưởng thành lớn mạnh của Đảng và tầm thế của Đại hội II... Đại hội II của Đảng họp trong hoàn cảnh phải lãnh đạo kháng chiến để hoàn thành giải phóng dân tộc, song từ năm 1945 Đảng đã trở thành Đảng lãnh đạo chính quyền, Đảng cầm quyền. Đảng Cộng sản đang lãnh đạo một Nhà nước cách mạng kiểu mới - Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước hợp pháp, hợp hiến kể từ khi diễn ra Đại hội quốc dân ở Tân Trào (8-1945) và nhất là toàn dân bầu Quốc hội khóa I (6-1-1946) lập Chính phủ chính thức (2-3-1946). Chính địa vị lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội và lãnh đạo cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ càng khẳng định vị thế của Đảng đối với đất nước và dân tộc. Đại hội II của Đảng là sự khẳng định trên thực tế vị thế vẻ vang đó, vì vậy tầm vóc của Đại hội II của Đảng là rất to lớn.
Đại hội Đảng lần thứ II (2-1951) họp trong hoàn cảnh quốc tế có những thuận lợi cho cách mạng Việt Nam và mối quan hệ quốc tế của Đảng, Nhà nước ta mở rộng, phát triển. Đảng, Nhà nước, cách mạng và kháng chiến của Việt Nam đứng vào đại gia đình các nước dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa. Dự Đại hội II có đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc và đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Xiêm (Thái Lan). Tầm vóc quốc tế của Đảng và của Đại hội được nâng cao và khẳng định khi cách mạng Việt Nam phá thế bị chủ nghĩa đế quốc bao vây... Đại hội II của Đảng cũng là dịp nhìn lại những ngày đầu Đảng nắm chính quyền sau Cách mạng Tháng Tám 1945 với những quyết sách về chiến lược và sách lược vô cùng khôn khéo và sáng tạo. Trong tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", thù trong giặc ngoài những năm 1945 - 1946, trong Báo cáo chính trị tại Đại hội II, chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Đứng trước tình hình gay go và cấp bách ấy, Đảng phải dùng mọi cách để sống còn, hoạt động và phát triển, để lãnh đạo kín đáo và có hiệu quả hơn, và để có thời cơ củng cố dần lực lượng của chính quyền nhân dân, củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất.
... Tầm vóc và ý nghĩa của Đại hội II thể hiện rất rõ ở sự kết hợp giữa trí tuệ của đội tiền phong lãnh đạo với thực tiễn, hoàn cảnh của cuộc kháng chiến đặt ra và hướng vào giải quyết những vấn đề cơ bản, cụ thể, thiết thực của sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam. Đại hội II đã thể hiện trí tuệ, năng lực, trình độ tư duy lý luận và tổng kết thực tiễn, coi trọng học tập kinh nghiệm của đồng chí, bè bạn nhưng cũng chú trọng phòng ngừa bệnh giáo điều. Đại hội II khẳng định: "Toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong và đạo đức, cách mạng của Hồ Chủ tịch; sự học tập ấy, là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng mạnh và làm cho cách mạng đi mau đến thắng lợi hoàn toàn".
PGS. TS Nguyễn Trọng Phúc
Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng
Từ bí mật ra công khai, cột mốc lớn trong lịch sử Đảng ta
PGS. TS Phạm Xanh
"Trong 81 năm lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, nếu tính từ tổ chức tiền thân là Việt Nam Cách mạng Thanh niên (Tháng 6-1925) là 86 năm, ta có lấy niên đại ngày 3-3-1951, ngày Đảng ta tuyên bố ra hoạt động công khai với tên gọi mới Đảng Lao động Việt Nam, làm một mốc phân thành hai thời đoạn lớn: Thời kỳ hoạt động bí mật và thời kỳ hoạt động công khai. Ở thời kỳ đầu, Đảng Cộng sản Việt Nam bị chính quyền thuộc địa đặt ra ngoài vòng pháp luật, mọi hoạt động của tổ chức chính trị này đều bị cấm, những ai không tuân thủ khi bắt được đều bị đưa ra toà xét xử các án tù. Ở thời kỳ thứ hai, Đảng Lao động Việt Nam công khai hoạt động, trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng... Đáp ứng tình hình mới và để đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi hoàn toàn, tháng 2-1951, Đảng Cộng sản Đông Dương tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ II tại xã Vinh Quang (nay là xã Kim Bình), huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Đại hội II cách Đại hội I là 16 năm. Nếu như Đại hội I họp ở Ma Cao, Trung Quốc với sự hiện diện của 13 đại biểu đại diện cho mấy nghìn đảng viên mà phần lớn còn bị giam cầm trong hệ thống nhà tù thực dân và trong hoàn cảnh hết sức bí mật, thì Đại hội lần này họp công khai trên vùng đất thuộc căn cứ địa Việt Bắc với sự có mặt của 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết thay mặt cho 766.349 đảng viên. Chỉ nhìn về hình thức, Đảng Cộng sản Đông Dương sau 16 năm hoạt động đã có bước tiến vượt bậc về số lượng đảng viên. Tại Đại hội này, theo sáng kiến của những người cộng sản Việt Nam, được sự đồng thuận của những người cộng sản Cămpuchia và Lào, đã đi tới một quyết định sáng suốt - thành lập ở mỗi nước một tổ chức cộng sản riêng. Ở Việt Nam, ngày 3-3-1951, Đảng với tên gọi mới là Đảng Lao động Việt Nam, tuyên bố ra công khai hoạt động và lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhân dân ta đi tới thắng lợi...
Từ khi thành lập đầu năm 1930 đến đầu năm 1951, Đảng Cộng sản Đông Dương hành tiến trong bí mật, bị chính quyền đương thời đặt ngoài vòng pháp luật ròng rã suốt 21 năm, đúng một thế hệ. Tính sao hết những mất mát, những hy sinh của những người cộng sản và những người cảm tình với Đảng đã ngã xuống cho cái ngày Đảng Lao động Việt Nam ngẩng đầu, cao giọng tuyên bố trước toàn thể nhân dân nước Việt và những người cộng sản trên toàn thế giới ra công khai hoạt động và mục đích chiến đấu của mình - bảo vệ nền độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Để đi tới đích vinh quang đó, Đảng ta đã cùng với dân tộc ta vượt qua mọi thác gềnh, giông bão, với biết bao hy sinh, mất mát ròng rã trong 24 năm nữa. Thắng lợi trọn vẹn trong hai cuộc kháng chiến và những kỳ tích trong công cuộc xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường ngày nay đều bắt nguồn từ cột mốc vàng son năm 1951 đó”.
PGS. TS Phạm Xanh
Nguyên Trưởng Khoa Lịch sử,
Trường Đại học KHXH và Nhân văn
Thủ đô Kháng chiến Tuyên Quang trong cái nhìn tổng quan
Thiếu tướng, PGS. TS Trịnh Vương Hồng
"...Từ đầu năm 1945, nhất là từ khi Nhật đảo chính Pháp, tình thế cách mạng ngày càng tới gần. Nhiều địa phương ở Việt Bắc, nhân dân đã giành được chính quyền; các lực lượng vũ trang theo nhiều đường khác nhau Nam tiến, các đơn vị quân giải phóng, Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân gặp nhau ở Chợ Chu, Đại Từ (Thái Nguyên), Chợ Đồn (Bắc Kạn), Đầm Hồng, Bản Thi, Chiêm Hoá, Sơn Dương (Tuyên Quang) và Văn Mịch (Lạng Sơn). Phong trào cách mạng như "nước vỡ bờ tràn lan nhanh chóng khắp nơi". "Phong trào cách mạng tại Tuyên - Thái đang phát triển mạnh và đã bắt được liên lạc với Trung ương ở miền xuôi". Và Hội nghị quân sự Bắc kỳ chủ trương phát động chiến tranh du kích, chuẩn bị tổng khởi nghĩa. Việc lựa chọn nơi đặt "Đại bản doanh" lãnh đạo - chỉ đạo khởi nghĩa theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh được đặt ra. "Bác nói, cần chọn ngay trong vùng Cao - Bắc - Lạng hoặc Tuyên Quang, Thái Nguyên một địa điểm có dân tốt, có cơ sở cách mạng tốt, địa hình tốt, có thể thuận tiện làm một trung tâm liên lạc với miền xuôi, miền ngược và ra nước ngoài...
Để tổ chức, xây dựng một căn cứ địa vững chắc về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá làm bàn đạp Nam tiến, giải phóng toàn quốc, theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 4-6-1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập hội nghị cán bộ tại Tân Trào, tuyên bố thành lập Khu giải phóng Việt Bắc. Khu giải phóng gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng giáp ranh thuộc Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ và Yên Bái...
Là Thủ đô Khu giải phóng, nơi đặt Đại bản doanh của cách mạng, Tuyên Quang vinh dự và tự hào, xứng đáng với sự tin cậy, tôn vinh của Đảng và Nhà nước bằng danh hiệu anh hùng và lòng biết ơn - nhớ ơn của nhân dân cả nước... ATK không phải là một đơn vị hành chính, mà là một khu vực lãnh thổ trong Khu giải phóng, trong căn cứ kháng chiến. Nơi đây có đầy đủ yếu tố thuận lợi về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, địa - chiến lược, địa - quân sự, nhất là có cơ sở quần chúng cách mạng vững chắc, đảm bảo an toàn cho sự hoạt động của các cơ quan lãnh đạo cao nhất của cuộc kháng chiến...
Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cách mạng đã do Việt Bắc mà thành công, thì kháng chiến sẽ do Việt Bắc mà thắng lợi". Những đóng góp của đồng bào các dân tộc Việt Bắc - Tây Bắc, đặc biệt là Khu giải phóng xưa với sự nghiệp cách mạng và kháng chiến giải phóng dân tộc - tiêu biểu là đồng bào tại ATK - Thủ đô kháng chiến thật vĩ đại. Tuyên Quang có niềm vinh dự đặc biệt, bởi ATK nơi đây, vừa là Thủ đô cách mạng, vừa là bộ phận trọng yếu của Thủ đô kháng chiến...".
Thiếu tướng, PGS. TS Trịnh Vương Hồng
Nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam
Ý kiến bạn đọc