Tin tức nổi bật
Mạch nguồn chảy mãi... (26/5/2012)
TQĐT - Họ là những người dành phần lớn thời gian của cuộc đời cầm bút viết nên những vần thơ, những câu văn đầy ắp tình đời, tình người từ nhiều nguồn cảm hứng khác nhau. Nhưng khi viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi người một cách diễn đạt riêng nhưng đều là những câu văn, câu thơ dạt dào tình cảm với vị cha già kính yêu của dân tộc. Đề tài về Bác Hồ như mạch nguồn chảy mãi từ trong sâu thẳm thiêng liêng của mỗi tâm hồn, mỗi nhà văn, nhà thơ Tuyên Quang.
“Cho con đặt tên em là Bút Ngọc"

TQĐT - Ông Nghiên Bút Ngọc, lão thành cách mạng ở tổ 3, phường Phan Thiết (TP Tuyên Quang) mới đây đã về với tiên tổ. Nhưng không phải ai cũng biết được rằng chính ông và dòng họ Nghiên ở xã Thanh La, nay là xã Minh Thanh (Sơn ...

Thực tiễn và nghị quyết

TQĐT - Nói về sự liên quan giữa thực tiễn và nghị quyết tôi kể cho ông nghe nhé. Ở chi bộ thôn Vinh Phú, xã Đại Phú (Sơn Dương), do đất trồng lúa ít, để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, chi bộ đã ban hành nghị quyết lãnh ...

Người đi rừng núi trông theo bóng Người

TQĐT - Trong những ngày này, du khách trong và ngoài tỉnh nườm nượp đổ về địa danh Tân Trào lịch sử - “trái tim” của Việt Bắc, của cả nước trong những năm tháng chống thực dân Pháp xâm lược. Giờ đi trên con đường “tự do” về chiến ...

Cảm xúc Tháng Tư

Thứ hai, ngày 30/4/2012, 8:34

TQĐT - Những ngày cuối tháng Tư năm 1975, những cánh đồng lúa của làng Dự đang kỳ trổ bông nên toàn bộ lao động của làng tập trung cho công tác thủy lợi. Nhà tôi ở sát con suối chảy qua làng, nơi mọi người đang tập trung nạo vét đoạn mương dẫn nước vào cánh đồng làng và gia cố phai tạm (phai tạm này vừa làm đường đi, vừa là công trình thủy lợi). Và tôi cũng được cùng các anh chị, bà con trong làng tham gia nạo vét, gia cố mương phai.

 
Lớp học thời chiến tranh chống Mỹ.

Ngày ấy cậu ruột tôi là đội trưởng phụ trách sản xuất. Giữa tiếng ồn ào của bà con xã viên, chiếc ra-đi-o lúc nào cậu cũng đeo kè kè bên hông khọt khẹt rồi bỗng phát đi tin chiến thắng giặc Mỹ. Cậu tôi lặng người. Hòn đất chuyển đến tay cậu rơi tõm xuống nước. Cậu vội vàng trèo lên bờ, vặn to tiếng loa, rồi giơ hai tay lên trời và gào lên: Hòa bình rồi, thống nhất đất nước rồi bà con ơi! Tất cả mọi người chợt lặng đi giây lát rồi vỡ òa những tiếng cười, tiếng nói và cả tiếng khóc. Những người đàn ông lem luốc bùn đất ôm chầm lấy nhau. Những người đàn bà nắm lấy vai nhau vừa kêu tên chồng, tên con, tên em vừa khóc. Mấy anh chị thanh niên và tôi cũng trèo lên bờ và tròn mắt nhìn những người lớn khóc, cười.

Mười sáu tuổi, tôi chưa ý thức được một cách đầy đủ, sâu sắc ý nghĩa của hai tiếng hòa bình, nhưng nhìn hình ảnh, bộ dạng của cậu tôi và những người lớn tuổi làng Dự hôm ấy tôi hiểu đó là điều lớn lao, kỳ diệu lắm. Trong trí óc non nớt của tôi hồi ấy, hòa bình nghĩa là từ nay không còn phải vừa bưng bát cơm ăn, vừa canh chừng để chạy ra hầm mỗi khi nghe tiếng máy bay rít trên đầu. Hòa bình, nghĩa là tôi và lũ bạn trong lớp không còn phải đội mũ rơm đến trường. Hòa bình nghĩa là thanh niên, học sinh sẽ được mặc áo trắng ra đường, tới trường mà không bị cấm, không bị rầy la là “làm mục tiêu cho máy bay”. Hòa bình nghĩa là những thanh niên trai tráng trong làng không phải đi chiến trường, không phải hy sinh...

Buổi lao động của làng Dự hôm ấy kết thúc sớm hơn thường lệ vì không ai còn tâm trí đâu mà làm việc nữa, nhưng cũng không ai chịu trở về nhà mình. Dưới rặng tre rợp mát trước ngõ nhà tôi từng tốp người túm năm tụm ba bàn bạc về tin hòa bình, thống nhất đất nước. Mỗi gia đình đều có kế hoạch, dự định riêng cho một giai đoạn mới khi chồng, con, anh em họ từ chiến trường, nơi hòn tên mũi đạn trở về.

Tối hôm ấy hai chị em tôi sang nhà cậu - sát nhà tôi. Bên ấm nước vối đặt giữa sân, cậu chiêu một ngụm lớn rồi thủng thẳng nói với mợ tôi, tới đây sẽ phá cái hầm tránh máy bay, chặt mấy bụi tre già ngâm xuống ao để cuối năm sửa lại căn nhà. Hòa bình rồi nhà ở phải đẹp đẽ, khang trang. Cậu tôi vừa nói vừa cười gương mặt rạng ngời. Tôi thì thào vào tai đứa em: Cậu sắp phá hầm. Rồi chẳng nói chẳng rằng hai chị em tôi lầm lũi ra phía bụi tre gai nơi có cây bồ quân đứng xế trước cửa căn hầm nửa nổi nửa chìm, mở cánh cửa hầm và đi vào trong đó.

Ánh trăng non đầu tháng nghiêng nghiêng chiếu xuống căn hầm. Miền Bắc im tiếng súng đã lâu, nên một thời gian khá dài căn hầm chỉ là nơi chúng tôi chơi trò trốn tìm vào những đêm sáng trăng. Tôi áp má vào vách hầm, mùi đất ẩm nồng nồng, ngai ngái xộc vào mũi. Chợt thấy lòng nhói lên khi nghĩ đến việc cậu tôi sẽ phá căn hầm này. Đây là căn hầm mà chị em tôi và các con của cậu thường ở đó mỗi khi có máy bay. Cha tôi công tác xa nhà nên tuổi thơ của mấy chị em tôi luôn có cậu ở bên. Đã bao năm rồi, căn hầm này gắn bó tuổi thơ của tôi. Mỗi lần có máy bay Mỹ, tiếng còi báo động rú lên inh ỏi là chị em tôi lại phóng như bay xuống hầm. Có những đêm tụi “giặc trời” quần đảo nhiều lần, vừa nghe còi báo yên, ngóc cổ lên khỏi hầm lại đã nghe tiếng phản lực rèn rẹt trên đầu. Mẹ tôi hét: Mấy đứa nằm im đó. Rồi hết máy bay, mọi người trở vào nhà nhưng mấy chị em tôi vẫn say sưa ngủ dưới hầm... Vậy mà giờ đây cậu tôi định phá hầm!

37 năm đã trôi qua, làng Dự của tôi không còn dấu tích nào của những ngày bom đạn. Những người thuộc thế hệ cha, chú và cậu tôi chẳng nói làm gì. Nhưng còn thế hệ từng phải nằm hầm tránh bom đạn, từng thuộc quy luật bắn phá của máy bay Mỹ, từng thổn thức khi căn hầm trú ẩn bị phá bỏ và cay cay nơi sống mũi khi chiếc mũ rơm được ném vào đống lửa như lũ trẻ làng Dự ngày ấy, trong đó có tôi thường có một cảm giác khó tả vào những ngày cuối tháng Tư này.

Tôi vẫn nhớ bộ dạng cậu tôi cùng những người đàn ông, đàn bà làng Dự ngày ấy khi nghe tin miền Nam toàn thắng. Và trong tôi lại tràn đầy niềm xúc cảm Tháng Tư!                  

Hoài Thu

Ý kiến bạn đọc